Posted on Leave a comment

Tâm lý sáng tác #3

Hits: 204

Xem lại phần 1  Xem lại phần 2 

CHƯƠNG II. QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA THỊ GIÁC VỚI KHỐI TRONG MÔI TRƯỜNG 3D MÁY TÍNH.

2.1. Điều kiện cảm nhận thị giác. Ánh sáng và màu sắc trên máy tính 3D.

2.1.1. Một số khái niệm về điều kiện cảm nhận thị giác trước một màn hình máy tính.

Độ phân giải hình ảnh là gì?

Khái niệm “resolution” – “độ phân giải” chỉ lượng thông tin như thế nào đó để thị giác có điều kiện tiếp nhận được, chứa đựng trong một tập tin ảnh kỹ thuật số được hiển thị trên các thiết bị hoặc được in ra, thông thường được đo bằng pixel. Nói một cách tổng quát, độ phân giải của bức ảnh càng cao, thì việc hiển thị nó trên web site hoặc trang in, nhằm làm cho thị giác chúng ta cảm thấy rõ chi tiết và độ mượt mà của bức ảnh. Do đó một vài bức ảnh có độ phân giải rất cao có thể chứa nhiều pixels hơn mức mà mà thị giác có thể nhìn thấy.

Pixels và Megapixels là gì?

Một pixel là một khối màu rất nhỏ và là đơn vị cơ bản nhất để tạo nên một bức ảnh kỹ thuật số. Một bức ảnh kỹ thuật số có thể được tạo ra bằng cách chụp hoặc bằng một phương pháp đồ họa nào khác – được tạo nên từ hàng ngàn hoặc hàng triệu pixel riêng lẻ. Bức ảnh càng chứa nhiều pixel thì càng chi tiết. Một triệu pixel tương đương với 1 megapixel. Do đó, một máy ảnh kỹ thuật số 3.1 megapixel có thể chụp được những bức ảnh chứa hơn Three triệu pixel.

Hầu hết các chương trình ứng dụng đồ họa 3D đều diễn tả độ phân giải của hình ảnh bằng pixel dimensions – kích thước pixel, với số đo chiều ngang đi trước. Như vậy, một hình ảnh có kích thước là “2592×1944” sẽ chứa 2,592 pixel trên mỗi hàng ngang và 1,944 pixel trên mỗi hàng dọc. Nhân 2 con số này với nhau sẽ cho ta 5,038,848 pixel hay độ phân giải xấp xỉ 5 megapixel.

Mối liên hệ giữa độ phân giải và kích cỡ file.

Nói chung, hình ảnh càng nhiều megapixel thì càng cần sử dụng nhiều bộ nhớ trên ổ cứng hoặc web site để lưu trữ. Tuy nhiên, định dạng ảnh bạn chọn để lưu ảnh cũng ảnh hưởng đến kích cỡ của nó.

Nếu một tấm ảnh kỹ thuật số 3.1 megapixel được lưu theo định dạng JPEG với mức nén ảnh thấp sẽ chiếm khoảng 600KB không gian ổ cứng. Ngược lại, cũng chính bức ảnh đó nếu được lưu dưới định dạng không nén TIFF sẽ chiếm khoảng 9MB không gian lưu trữ.

Mối liên hệ giữa độ phân giải với kích thước của ảnh.

Ảnh càng lớn thì không chỉ càng chiếm dụng nhiều không gian lưu trữ mà còn hiển thị càng lớn trên màn hình của bạn hoặc khi in nó ra. Ví dụ, một bức ảnh 5 megapixel sẽ chứa nhiều pixel hơn theo chiều ngang cũng như theo chiều dọc so với một bức ảnh chỉ có Three megapixel, do đó nó sẽ chiếm nhiều chỗ hơn trên màn hình khi xem với kích thước đầy đủ (full measurement) của nó. Tuy nhiên, một bức ảnh được lấy trực tiếp từ máy ảnh kỹ thuật số với kích thước như vậy sẽ là quá rộng đối với hầu hết máy in và quá lớn với các web site. Điều đó có nghĩa là cần thu nhỏ bức ảnh lại trên máy tính.

Khi thu nhỏ bức ảnh bằng một ứng dụng biên tập ảnh, thực ra nó sẽ loại bỏ bớt các pixel khỏi bức ảnh để làm nó nhỏ lại. Quá trình này sẽ làm giảm chất lượng bức ảnh đến một mức nào đó. Thực ra, quá trình loại bỏ bớt dữ liệu (take away knowledge hay downsample) luôn tốt hơn quá trình thêm dữ liệu (add knowledge hay resample) để làm tấm ảnh lớn hơn.

Phân biệt giữa Pixels Per Inch và Dots Per Inch.

Mặc dù thường được dùng thay thế cho nhau, tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, pixels per inch (PPI) và dots per inch (DPI) không phải là một.

PPI chỉ số lượng pixel có trên 1 inch của một bức ảnh số hoặc màn hình máy tính. PPI tuy không ảnh hưởng đến chất lượng thực sự của bản thân bức ảnh nhưng nó có thể ảnh hưởng đến việc hiển thị bức ảnh đó trên trang internet hoặc bản in.

DPI, ở một khía cạnh khác, lại chỉ độ phân giải của các bản in mà máy in có thể tạo ra. Đây là một đặc tính vật lý của máy in. Mỗi dot  của máy in đều có kích thước vật lý xác định (điểm đen). Máy in sử dụng các dot mực để hiển thị hình ảnh, máy in tạo ra càng nhiều dot trên một inch vuông thì chất lượng bản in càng cao. Các dòng máy in cấp thấp có DPI thấp trong khi các dòng máy in cấp cap sẽ có DPI cao. Ví dụ: một máy in hỗ trợ 1200DPI có nghĩa là máy thể in 1200 điểm trên 1 inch (theo cả chiều ngang lẫn chiều dọc).

Khi in ấn, một điểm quan trọng cần chú ý, đó là phải đảm bảo rằng DPI phải lớn hơn hoặc bằng PPI. Nếu DPI nhỏ hơn PPI, máy in sẽ không thể thể hiện được đầy đủ được độ phân giải cao của tấm ảnh. Nếu DPI lớn hơn PPI, máy in sẽ sử dụng nhiều dot mực để biểu diễn một pixel. Trái ngược với PPI, DPI không phụ thuộc vào kích cỡ trang in. DPI là một chỉ số cố định với một máy in cho trước.

2.1.2. Ánh sáng và màu sắc của Zbrush tạo khối trên màn hình máy tính.

Ánh sáng, màu sắc với một đối tượng điêu khắc ngoài thực tế và trong máy tính có những tính chất giống nhau và khác nhau. Ở bên ngoài thực tế, khối chiếm chỗ của không gian. Khi ánh sáng có tính chất chiếu thẳng vào khối, sẽ có những phần của khối nhận và không nhận được ánh sáng do vị trí khác nhau với nguồn sáng. Lúc này, nhờ ánh sáng phản xạ lại vào mắt ta, qua các sắc độ sáng tối của đối tượng mà ta sẽ nhận ra khối. Có nghĩa là ta sẽ nhận ra đối tượng có khối (ba chiều) nhờ vào độ sáng và bóng mờ của bản thân chúng.

Trong thực tế khi nghiên cứu một đối tượng nào đó, ta thường quy chúng về ánh sáng 3 chiều, nhằm dễ phân biệt mảng khối chính. Đó là độ sáng nhất, trung gian, và bóng tối. Trong hội họa, còn có thể nghiên cứu thêm hiện tượng bóng đổ, bóng phản quang, nhằm lột tả kỹ hơn bản chất ánh sáng trên đối tượng, để làm rõ sự liên hệ của khối nằm trong không gian bao quanh, hay rõ hơn là mối quan hệ tương hỗ giữa khối và môi trường mà khối đang tồn tại trong đó. Màu sắc trong thực tế lại là một loại màu có gam sắc tự nhiên, được tổng hợp từ rất nhiều màu sắc bản thân và xung quanh, cộng thêm sự biến đổi của ánh sáng thực tế tạo thành. Vì vậy, không thể dễ dàng gì tạo lại được trên máy tính bằng các phương pháp thủ công, mà không có trợ giúp của các plugin trong phần mềm. Nhưng riêng về điêu khắc. Tượng có thể nhìn gần (tượng trong nhà) hoặc có thể nhìn xa (tường công viên, tượng ngoài trời) màu sắc, chất liệu có lúc lại trở thành thứ yếu.

 

 Bởi vì khi nhìn xa, người ta nhận biết được khối (3 chiều) của  bức tượng nhờ các góc độ ánh sáng có mạnh mẽ khúc triết hay không. Nếu khối mảng càng khúc triết vuông vắn, ánh sáng ngoài trời vốn rất mạnh,và sự tương phản của các diện, mảng, khối sẽ nổi bật khá rõ. Người xem phân biệt được rõ ràng các sắc độ ánh sáng của bản thân bức tượng. Như vậy điều kiện cho sự cảm thụ sự biểu cảm của khối tăng lên, dẫn đến các cảm xúc thẩm mỹ phát sinh cho người xem. Và thông điệp của tác giả rất dễ  đi vào lòng người. Còn nếu khối bị mu đi (smooth) thì ánh sáng mạnh ngoài trời sẽ áp đảo khiến tác dụng của khối không còn tác dụng. Màu sắc ở đây có lẽ không còn quan trọng nữa. Nhưng với bức tượng trong nhà thì ngược lại, do ánh sáng trong nhà, phần lớn đã dịu đi rất nhiều so với ngoài trời. Nên màu sắc và chất liệu của tượng sẽ có sự đóng góp nhất định vào nội dung, bản chất và hình thức biểu hiện nghệ thuật của bức tượng.  Cũng cùng chung nhau một góc nhìn, một bức tượng với một chất liệu duy nhất không biến đổi, tune cường độ, vị trí, màu sắc ánh sáng sắp xếp chiếu vào bức tượng khác nhau sẽ cho ra những cảm thụ mỹ cảm về khối khác nhau (hình 2.1).

Trong máy tính, theo nguyên tắc ta vẫn có thể tạo lập được đầy đủ tính chất các loại ánh sáng có trong tự nhiên và trong nhà, nhưng chúng được thể hiện trên màn hình máy tính hai chiều. Vấn đề là làm thế nào để tác giả và người xem cảm nhận được chúng giống hệt như 3 chiều ngoài thực tế.



Đối với hiện thực, do cấu tạo con mắt người, mắt trái và mắt phải sẽ nhìn vật với hai góc độ khác nhau, nên khi tổng hợp trong não, nó sẽ cho ra một hình ảnh hoàn chỉnh có tính Three chiều. Nhưng với máy tính, tính chất hoàn toàn ba chiều là không có. Vì vậy đòi hỏi chúng ta phải phải học tập và rèn luyện trải nghiệm nhiều kỹ năng thể hiện mới hỗ trợ thành công trong sáng tác được. Mặc dù các phần mềm 3D trên máy tính đã cố gắng khắc phục các nhược điểm này (thậm chí trong điện ảnh 3D các chuyên gia đã phải chế tạo ra kính đeo mắt chuyên dụng để hỗ trợ xem phim quay theo kỹ thuật 3D).

Trong hội họa, để tạo chiều sâu, các nhà tạo hình đã dùng sự đậm nhạt của màu sắc, để mô phỏng diễn tả ánh sáng ngoài đời thật. Sự thành công đã được chứng minh trong suốt các thập kỷ qua. Một điển hình là tranh phong cảnh của Isaac Ilyich Levitan (tiếng Nga: Исаак Ильич Левитан – sinh ngày 30 tháng 8 năm 1860, mất ngày 4 tháng 8 năm 1900) là một họa sĩ tranh phong cảnh người Nga, gốc Do Thái nổi tiếng. Chiều sâu trong tranh phong cảnh của ông là một minh chứng tuyệt vời đối với sự liên tưởng của thị giác con người (hình 2.2). Nhưng đặc biệt hơn khi xem chúng, mọi cảm xúc thẩm mỹ vốn có, tuyệt vời nhất trong mỗi bản thân con người lại được dậy sóng.

Trong điêu khắc, với thể loại phù điêu đắp nổi, thì độ cao hay chiều thứ ba đã được thể hiện bằng các thủ pháp khác với hội họa. Đó là nghệ thuật xử lý lớp. Với tính chất hết sức đặc biệt, khái niệm lớp ở đây hoàn toàn phụ thuộc vào tâm lý, và không hề có tính vật lý.

Nó không tuân theo bất cứ một tỷ lệ nhất định nào, và không hề phụ thuộc tỷ lệ của hai chiều kia như tượng tròn. Nhưng hiệu quả của lớp hoàn toàn cho thị giác người xem thấy được hình dạng khối như tượng tròn ba chiều thực. Hình 2. 4 là một loại đắp nổi cao (high-relief), hình 2.3 là đắp nổi thấp (low-relief). Ngoài ra còn loại thứ ba là đắp nối trung bình (mid-relief).

Hình minh họa 2.3

Hình minh họa 2.4

Trong máy tính ta hoàn toàn có thể xử lý ánh sáng để tạo chiều thứ ba tương tự như trong thủ pháp áp dụng trong hội họa, nhằm diễn tả chiều sâu.

Như vậy, phù điêu và tượng tròn trong điêu khắc có các mặt khác và giống nhau. Khác nhau ở chỗ tượng tròn thì ba chiều có tỷ lệ tương đồng và chặt chẽ với nhau, nhưng phù điêu thì chỉ có 2 chiều có tỷ lệ chặt chẽ với nhau, còn chiều sâu thứ ba là chiều tâm lý, không phụ thuộc hai chiều kia. Chúng có thể đắp cao, thấp hoặc trung bình (hoàn toàn được cảm nhận vì tâm lý). Với người này có thể cao, nhưng với người khác là trung bình. Hoặc ngược lại.

Chúng giống nhau ở chỗ đều phải tạo một hiệu ứng thị giác sao cho người xem liên tưởng thấy chúng hoàn toàn như một đối tượng ba chiều thực. Vì tính chất này, mà ngoài cảm xúc thẩm mỹ, sinh viên còn cần phải có kỹ năng thể hiện có biểu cảm của lớp trong phù điêu một cách kỹ thuật và có tính nghệ thuật cao để sự liên tưởng mỹ cảm có thể phát khởi với người xem. Độ dày lớp và diện tích bề mặt tác phẩm trong phù điêu có một tương quan tỷ lệ nào đó khiến người xem sẽ có cảm giác phù điêu cao, thấp, trung bình… Trên máy tính chúng ta không thể đo được bề dày các lớp, nhưng vẫn có những công cụ tạo độ cao thấp và tạo ánh sáng khiến chúng ta có thể kiểm soát độ cao thấp hay chiều sâu của chúng. Đó chính là các loại thanh trượt Intensty trong Zbrush. Ngoài phải rèn luyện kỹ năng kỹ thuật sử dụng phần mềm thành thạo, còn phải để ý tới kỹ năng  liên tưởng từ vật thể ảo 3D trên máy tính với sự tưởng tượng khi chúng tồn tại ngoài thực tế. Kỹ năng này không phải tự nhiên mà có, mà chúng ta phải học và rèn luyện.

Vì để khắc phục vấn đề này, bất cứ phần mềm 3D nào cũng hỗ trợ 4 khung nhìn cho một đối tượng 3D. Trong đó có 3 chiều chiếu vuông góc với vật, còn một là mô phỏng phối cảnh của nó trong thực tế.

Sự liên tưởng này hơi khác với con mắt thật tạo ra vật 3 chiều trong não bộ. Bởi nó là khách quan, khi sinh ra ta đã có cơ chế tự nhiên, không phải luyện tập. Còn với máy tính, não ta phải qua thêm một vài bước trung gian nữa mới có thể tổng hợp và công nhận nó là 3 chiều trên máy tính. Nhất là khác với bình thường, phải nhìn 3 hình chiếu để tưởng tượng ra một vật trong không gian như thế nào.

Nhưng may thay, Zbrush nói riêng và các phần mềm 3D khác nói chung đã khắc phục được nhược điểm này để ngày càng tiện lợi và dễ sử dụng cho các nghệ sĩ. Đó là các chức năng Rotate (xoay), Move (di chuyển) đối tượng ngay trên màn hình. Qua quá trình di chuyển và xoay này, con mắt chúng ta sẽ nhìn được nhiều chiều của đối tượng trong thời gian ngắn nên vẫn có thể tổng hợp được gần giống như trong thực tế. Và được não bộ công nhận đối tượng đó là một đối tượng ba chiều (3D). Chính vì vậy, kỹ năng thứ 2 là phải tích cực rèn luyện, học tập sử dụng phần mềm một cách thành thạo, để sử dụng hiệu quả chúng cho công việc sáng tác điêu khắc. Như vậy hai kỹ năng này không cần phải có năng khiếu, chỉ cần rèn luyện chăm chỉ một thời gian là có thể khắc phục được.

Ngoài ra, phần mềm còn có nhiều hỗ trợ khác về thiết lập màu sắc, ánh sáng để giúp thị giác của ta dễ dàng coi chúng là các đối tượng 3D thực thụ, mặc dù đang làm việc trên màn hình máy tính. Hơn nữa, mọi kinh nghiệm sắp xếp ánh sáng ngoài thực tế như thế nào cũng đều được mô phỏng đúng và hiệu quả với những nguồn sáng nhân tạo chiếu vào các đối tượng 3D trong Zbrussh.

2.2. Lực thị giác khi nhìn vật 3D trên máy tính.

Khi làm việc trên máy tính, lực thị giác có tác dụng trên phương diện vật lý và tâm lý. Về vật lý, chúng ta nắm được những yếu tố tác động vào mắt, để có thể áp dụng các phương pháp làm việc tối ưu trên máy tính, nhằm giảm thiểu những mặt tiêu cực cho mắt. Như bố trí giờ làm việc, thời gian, sức lực cho mắt chúng ta.

Nhằm giữ gìn tổn thất tối thiểu nhất cho mắt, nâng cao hiệu quả làm việc với máy tính. Nếu làm việc nhiều trên máy sẽ dẫn đến hiện tượng mỏi mắt, nó có liên quan đến vấn đề này. Ngoài ra sẽ có nhiều vấn đề khác phát sinh với sức khỏe.

Nhiều chuyên gia về lĩnh vực máy tính và y tế đã khuyến cáo rằng, ai cũng biết là xem tivi, làm việc với máy tính nhiều mỏi mắt nhanh hơn đọc sách, sẽ gây cận thị và nhiều bệnh về mắt. Còn các chuyên gia y tế cho biết ngồi lâu bên máy tính đồng nghĩa với việc chỉ có bàn tay, cổ và các ngón tay của chúng ta phải hoạt động liên tục. Trong khi toàn bộ phần thân người lại gần như bất động. Vậy lực thị giác sẽ ảnh hưởng đến mắt chúng ta như thế nào. Lực thị giác phát sinh khi chúng ta phải tập trung coi một vật gì đó mà não bộ chúng ta bắt buộc hai con mắt phải tập trung vào đấy.

 

 Trong một không gian lớn, nếu vật đó nhỏ, tương ứng lực thị giác chúng ta sẽ ít hơn, đồng nghĩa lượng calo hao hụt ít hơn, mắt sẽ đỡ mỏi hơn. Nhưng nếu một không gian nhỏ, vật ta đang nghiên cứu lại choán gần hết không gian đó, đồng nghĩa lực thị giác của chúng ta sẽ phải mạnh hơn, mắt làm việc căng hơn, sẽ mau mỏi mắt hơn.

Rõ ràng khi ta nhìn bức tượng ở xa trong công viên xanh ngát, với bầu trời rực rỡ, con mắt ta dễ chịu hơn nhiều (có thể nói nhìn không mỏi mắt). Nhưng ngược lại, làm việc trên không gian máy tính, với giới hạn là màn hình, vật khi to khi nhỏ, choán gần bằng màn hình, sẽ mau mỏi mắt hơn. Vì vậy khắc phục điều này, ta nên bật đèn trong nhà để ta có thể nhìn thấy mọi vật trong nhà, khiến mắt ta có thể tận dụng được khung cảnh rộng lớn hơn, vật sẽ dường như nhỏ hơn khắc phục nhược điểm này (hình 2.5 và 2.6).

Về mặt tâm lý, não bộ có thể nhận được một vật hoàn chỉnh khi các khối chi tiết của vật thể ấy được sắp xếp với những khoảng cách hợp lý, khiến chúng như có sức hút với nhau, và gắn kết thành một đối tượng duy nhất.

Lúc này có thể nói, chúng đã tạo được một lực thị giác khiến ta tập trung, tổng hợp và biến các khối riêng lẻ thành một tập hợp hình dạng thị giác phức tạp. Qua các hình dạng thị giác phức tạp này, kinh nghiệm mỹ cảm sẽ phát sinh và khởi đầu một trạng thái tâm lý tiếp theo. Đó là trạng thái phân tích, cảm thụ nghệ thuật trên nền cảm xúc mỹ cảm phức tạp của tâm lý nghệ thuật.

2.3. Trường thị giác với không gian 3D trên máy tính.

Nghệ thuật tạo hình có hai anh em sinh đôi là hội họa và điêu khắc. Trong hội họa, hình dạng thị giác của hội họa đơn giản hơn điêu khắc. Bởi vì hình dạng của hội họa thuần túy nằm trên mặt phẳng hai chiều, khiến diễn biến tâm lý chỉ dựa trên sự sắp xếp của điểm, đường nét, diện, mảng đậm nhạt và các mảng màu. Tất cả các yếu tố đó đều nằm trên một mặt phẳng. Chiều thứ ba chỉ nảy sinh do diễn biến tâm lý liên tưởng từ kinh nghiệm thể hiện, thủ pháp, kỹ năng sáng tác của tác giả. Do vậy trường thị giác hầu như gom lại trên một diện phẳng và hẹp (phạm vi bức tranh).

 Còn điêu khắc, ngoài điểm, đường nét, diện, mảng, còn có thêm khối. Vì vậy hình dạng thị giác khá phức tạp hơn do thêm một chiều thứ ba trong không gian. Chiều thứ ba này khiến tập hợp khối chiếm một thể tích nhất định trong không gian và tạo một trường nhìn lớn và phức tạp hơn. Trường nhìn thị giác trong điêu khắc có thể là “n” hướng hoặc 360 độ xoay quanh bố cục tượng. Vì vậy, để tạo hiệu ứng tâm lý mỹ cảm khiến tác giả phải mất nhiều công sức cả về thủ pháp cũng như năng lực sáng tác. Mỗi một hướng là một bức tranh toàn cảnh. Nếu là một bức tượng công viên ngoài trời, tác giả phải xử lý hết sức công phu ít nhất là năm hướng nhìn vào tác phẩm. Đó là trước sau, phải trái, và trên xuống. Chỉ cẩu thả một hướng cũng có thể làm giảm giá trị hình thức biểu hiện. Trên máy tính, việc kiểm soát hình dạng khối nhiều chiều khá dễ dàng với nhiều hỗ trợ đặc trưng.

Trong một bố cục tượng tròn và phù điêu, chúng có sự cấu thành từ nhiều mảng khối khác nhau tạo nên tác phẩm. Các khối bao gồm nhiều mảng, diện, đường nét của mỗi khối quấn quít bao gồm lẫn nhau, lúc gần lúc xa, lúc to lúc nhỏ, tạo nên một trường ca về nghệ thuật sắp xếp khối mảng. Những khoảng cách giữa chúng tạo nên những lực hấp dẫn lẫn nhau (về tâm lý) để tạo nên một bố cục chặt chẽ hay lỏng lẻo, mềm mại hay cứng rắn, cách điệu cao hay tả thực, bay bổng hay lệ thuộc…tùy theo các chủ đề và tình cảm lúc tác giả theo đuổi và sáng tác. Nhưng lẫn trong đó có một quy luật khách quan là dường như có một lực hấp dẫn nào đó giữa các khối với nhau. Nếu gần nhau nó sẽ ảnh hưởng nhau, tôn nhau lên. Khi xa nhau nó sẽ làm giảm hệ quả lôi kéo, kém sức hút của mắt người xem vào tác phẩm. Chính sự sắp xếp khối xa gần nhau, tạo nên những bố cục khác nhau, mang ý nghĩa bản chất khác nhau đó, đã tạo ra một trường thị giác trong điêu khắc để thu hút con mắt người xem. Trường này nằm ngay trong khoảng không gian được giới hạn từ mắt người xem tới toàn bộ chu vi bức tượng. Tác phẩm phải tạo ra được một trường thị giác đủ sức hút, tức có một sự gắn kết hợp lý, mới có thể lôi kéo hấp dẫn độc giả. Nếu bố cục sắp xếp khối rời rạc, phi logic, gây nên sự lỏng lẻo, không gắn kết. Dẫn đến sai lạc chủ đề, không thể hiện nổi ý tưởng mà mình muốn diễn tả chắc chắn sẽ thất bại.

Trong bố cục nghệ thuật hết sức phức tạp, nó chỉ thành công khi có một sự cộng hưởng và thăng hoa giữa nội dung hàm chứa và ngôn ngữ thể hiện của khối thích hợp. Muốn tạo ra được một trường thị giác tốt, chúng ta còn rất nhiều nguyên tắc về bố cục mà ngay từ khi bước chân vào con đường chuyên nghiệp, sinh viên đã được tìm hiểu và trải nghiệm qua các bài học. Kể cả hai ngành điêu khắc và hội họa nói riêng và toàn trường nói chung. Có rất nhiều các nguyên tắc và quy luật cho bố cục tạo hình ta sẽ tìm hiểu phía dưới. Trên máy tính, để tìm được một trường thị giác tốt đơn giản hơn nhiều. Vì lý do máy tính là sự mô phỏng lại thực tế. Bản thân nó khi tạo hình, đã lược bỏ bớt các bước trung gian cho tâm lý và đôi mắt tác giả bớt đi sự tính toán xa gần trong thực tế, mà chỉ chú trọng vào hiệu quả nghệ thuật mà thôi.

Trong thực tế khi bố cục một ý tưởng, nó sẽ bị nhiễu rất nhiều. Do hoàn cảnh thực tế bên ngoài rất phức tạp. Trong tượng tròn, ngoài các mối liên hệ khối trong bố cục, nó còn bị ảnh hưởng rất nhiều của môi trường khối, ánh sáng xung quanh. Nó khiến ta mất tập trung, khó tìm tòi ra được những trường thị giác tốt, phục vụ cho mục đích hoàn thiện phác thảo hoặc tác phẩm. Như vậy các tín hiệu thị giác trên máy tính sẽ được tập trung, tạo ra được một lực thị giác hấp dẫn (cả về tâm lý và vật lý) lôi kéo người xem.

Dường như trong mỗi một bố cục cụ thể nào đó, vị trí thích hợp giữa các khối mảng diện nào đó, tùy thuộc vào các tính chất vật lý và tâm lý của chúng (như hình dạng, màu sắc, hướng, tính tình, vui mừng hạnh phúc, hay đau khổ nghẹn ngào của tác giả…) có tác dụng lớn tới bố cục. Nhiệm vụ của các nghệ sĩ sáng tác là luôn tìm kiếm các quan hệ và các khoảng cách vật chất thích hợp nhất trong quá trình sáng tạo của mình. Và trong trường thị giác đó luôn có những điểm nhấn quyết định của những khối mảng quyết định, là tâm điểm tạo sự thành công của một bố cục đẹp về hình thức, ý nghĩa về nội dung.

Như vậy một tác phẩm nghệ thuật trong thực tế hay máy tính, tính khoa học đầu tiên phải tạo được một trường thị giác hợp lý, qua đó nảy sinh một lực thị giác lôi kéo người xem, từ đó các kinh nghiệm thẩm mỹ nghệ thuật được phát sinh. Thông điệp của tác giả mới có cơ hội chuyển tải tới người xem. Tác giả và người xem đồng điệu, tác phẩm mới được coi là thành công.

2.4. Hình dạng thị giác với bố cục sáng tác.

2.7

2.8

2.9

Hình dạng thị giác tức là hình ảnh đơn giản đầu tiên mà con mắt tiếp xúc với đối tượng, chưa bị não bộ tổng hợp thành một hình ảnh phức tạp như đối tượng vốn có trong thực tế. Hiểu rõ khái niệm hình dạng thị giác, sẽ giúp ích rất lớn cho công việc sáng tạo của ta. Nó tránh cho tác giả khỏi sa vào một mớ hỗn độn phức tạp như vốn có của đối tượng, ngay từ những bước đầu khởi động. Ta có thể lấy một ví dụ để hiểu rõ bản chất của khái niệm quan trọng này. Khi chúng ta đang đi ngoài đường đông đúc, không để ý đến ai. Nhưng một người thân quen lướt nhanh qua, chỉ cần thấy được hình bóng thoáng qua ngắn ngủi, ta vẫn có thể nhận được ra đó là ai. Vậy ta nhận ra người đó bằng lý do gì. Bỏ qua những yếu tố tâm lý, thì duy nhất đó chính là hình dáng đơn giản nhất của người đó đã quá quen thuộc. Ta không thể có thời gian để nhìn chi tiết mắt, mũi, miệng, khuôn mặt để qua đó nhận biết chính xác. Mà chỉ cần một cái gì đó chung nhất, đơn giản nhất, bản chất nhất đã có thể đại diện đầy đủ cho đối tượng đó. Hình dạng thị giác là một khái niệm làm chúng ta nhìn nhận thế giới một cách đơn giản đi, nhưng lại đi thẳng tới bản chất hình tượng của đối tượng hơn. Không bị sa vào chi tiết rườm rà rắc rối vốn có của thực tế, từ đó dễ bị lạc hướng, có khi quay ngược với cả hướng đi ban đầu. Như vậy hình dạng thị giác có chứa một lượng thông tin cơ bản nhất định nào đó, qua kinh nghiệm thực tại của mỗi người mà thông tin đó sẽ được khôi phục lại, nhưng ý nghĩa lớn hơn như đã từng trải nghiệm.

Một ví dụ về hình dạng thị giác (các hình phía trên):

– Hình 2.7: Đây là hình nguyên thủy đơn giản (một đường thẳng, một nửa vòng tròn), mọi người đều thấy rõ nó là một đường cong trên một đoạn thẳng, chẳng diễn tả một ý tưởng nào cả.

– Hình 2.8: Nếu ai ở tâm trạng phấn khích, hạnh phúc, vui vẻ… có thể người đó sẽ liên tưởng tới ánh bình minh.

– Hình 2.9: Còn ai đang tâm trạng đau khổ, ê chề, không hạnh phúc… có thể sẽ liên tưởng đến nấm mộ hoang đầy cỏ dại.

Chúng ta có thể có nhiều ví dụ tương tự. Nhìn một hình dạng nào đó, con người có thể liên tưởng tới một sự kiện, sự vật, một âm thanh, một giá trị tinh thần…nào đó đã trải qua kinh nghiệm trong cuộc sống của họ. Ví như nhìn một hình tròn, người thành phố có thể liên tưởng tới bánh xe ô-tô. Còn người ở nông thôn có thể liên tưởng tới một bánh xe bò. Nhìn một hình tam giác, người ta có thể liên tưởng tới một mái nhà, một lá cờ đuôi nheo, một kim tự tháp…Nhìn một đường thẳng đứng, có cảm giác mang lại sự sống khi liên tưởng đến con người đứng thẳng. Nhìn một đường nằm ngang, người ta liên tưởng tới sự bất động, sự chết khi liên tưởng đến một cái xác không hồn…

Dưới đây là một số quan điểm của họa sĩ, nhà điêu khắc Picátxô, đồng quan điểm với sự áp dụng khái niệm hình dạng thị giác vào nghệ thuật tạo hình:

–   Họa sĩ phải quan sát thực tế, nhưng không bao giờ đánh lẫn nó với hội họa. Nó chỉ được đưa vào hội họa thông qua các tín hiệu…

–   Nghệ thuật là sự loại bỏ những gì không cần thiết.

–   Nghệ thuật gội rửa tâm hồn khỏi những bụi bặm của đời sống hàng ngày.

–   Nghệ thuật là lời nói dối làm chúng ta nhận ra chân lý.

–   Nghệ thuật không phải là sự áp dụng các khuôn mẫu về cái đẹp, mà do bản năng và suy nghĩ có thể cảm nhận được vượt khỏi những khuôn mẫu. Khi yêu một người phụ nữ, ta không đi đo tỉ lệ chân tay của cô ấy.

–   Không có nghệ thuật trừu tượng. Bạn luôn phải khởi đầu với một thứ gì đó. Sau đó bạn có thể lược bỏ mọi dấu vết của hiện thực.

–   Điêu khắc là nghệ thuật của những người thông minh.

Trong thực tế nghiên cứu và sáng tác. Bao giờ chúng ta cũng phải đi theo các bước, tìm tổng thể rồi mới tới đẩy sâu chi tiết nhằm làm rõ thêm cái tổng thể đó, theo các quy luật và nguyên tắc khi sắp xếp bố cục để sáng tác. Chứ tuyệt đối không phải làm rõ chi tiết cái đối tượng ngoài thực tế thật kia (như minh họa đối tượng). Tổng thể có lẽ chính là cấu trúc vật thể, là hướng, là đường, là nét, là những hình ngoại tiếp cơ bản kỷ hà… của các đối tượng. Từ cái bản chất cô đọng nhất đó, qua lăng kính của người nghệ sĩ, một sáng tạo mới đại diện cho tất cả những đối tượng, vật thể có cùng bản chất được tái hiện, nhưng chúng có tính điển hình cao hơn đối tượng được dùng làm cớ để mô tả. Có thể lúc này một tác phẩm nghệ thuật sẽ được ra đời. Trong sáng tác, luật bố cục đòi hỏi sự quán xuyến đầu tiên phải có những đường nét đơn giản, mảng khối cơ bản định hướng trước bố cục. Sau đó trên cơ sở đó mới có các bước tiếp theo. Vậy các đường nét, khối mảng đơn giản đó phải bắt buộc mắt người dễ dàng nhận biết, phân tích tổng hợp nhằm đưa tâm lý hướng tới các kinh nghiệm mỹ cảm và từ đó phát sinh cảm xúc mỹ cảm.

Ta đều biết, tất cả các đối tượng dù nhiều chi tiết rườm rà, chúng đều phải nằm nội tiếp trong những hình kỷ hà đơn giản. Một ngôi nhà, dù phức tạp đến đâu chăng nữa, nếu nhìn xa nó có thể nằm nội tiếp trong một hình chữ nhật đứng hoặc ngang. Nếu nhìn gần nó sẽ nằm trong một khối đơn giản nhất là khối hộp. Để đi tiếp các bước phân biệt đâu là nhà này nhà kia, thì ta chỉ cần tính tỷ lệ các chiều với nhau. Tỷ lệ tạo nên cái riêng biệt cho từng đối tượng, nhưng không thể thoát khỏi cái sơ khởi là các hình kỷ hà đơn giản, tương ứng với các khối đơn giản được tạo từ nó. Đó là hình chữ nhật hoặc khối hộp, hình tam giác với khối chóp, hình tròn với khối hình nón.

Cấu trúc tỷ lệ là bí quyết của sự khác nhau vê hình dạng của muôn loài. Chính Picátxô cũng đã có một cảm khái: “Chúa là một nghệ sĩ. Ông ấy tạo ra hươu cao cổ, voi, mèo. Ông ấy không có phong cách cụ thể nào, Ông ấy liên tục thử nghiệm những mới mẻ”.  Có một tỷ lệ mà cho đến nay vẫn còn là một bí ẩn trong mọi lĩnh vực. Bởi vì nó có giá trị trong hầu hết mọi cấu trúc từ vĩ mô tới vi mô. Từ khoa học xã hội tới nghệ thuật, từ vũ trụ rộng lớn tới hạt cát nhỏ bé, từ sinh vật bé nhỏ tới các ứng dụng trong đời sống con người. Nó thống nhất tới tất cả mọi thứ tồn tại trong thế giới thực này. Một tỷ lệ đặc biệt có thể nói đại diện cho cái đẹp được con người tìm ra qua nghiên cứu và thống kê. Chứ chưa thể lý giải được tại sao nó lại tồn tại hết sức khách quan không phụ thuộc vào ý chí con người. Tỷ lệ tồn tại trong thực tế bao trùm khách quan đó được gọi là Tỷ lệ vàng.

Ta có thể khảo cứu vài ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước để chứng minh. Theo web site có địa chỉ http://genk.vn/, đã tổng hợp từ nhiều nguồn các tư liệu chứng minh Tỷ lệ vàng là một tỷ lệ bao trùm khách quan. Trong thực tế có rất nhiều thứ được thiết kế theo một tỉ lệ khiến người nhìn cảm thấy một sự cân đối khó giải thích. Con người vẫn không thể giải thích được, tại sao vô số những thực thể hữu cơ lẫn vô cơ tìm thấy trong tự nhiên lặp đi lặp lại tỷ lệ đặc biệt trên. Nguyên nhân đằng sau con số chi phối sự cân đối hài hoà và vẻ đẹp của toàn thể vũ trụ là gì? Câu hỏi này đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của rất nhiều người trong hàng thiên niên kỷ qua, nhưng cho đến ngày nay nó vẫn tiếp tục là một điều bí ẩn. Chúng ta thử điểm lại một số vấn đề và ứng dụng của tỷ lệ vàng này trong các lĩnh vực khoa học, xã hội và nghệ thuật, mà các giới chuyên môn đã đề cập tới rất nhiều trong thời gian rất dài vừa qua.

1. Tỉ lệ vàng là gì?: Những nghiên cứu về một tỉ lệ đẹp giữa các cạnh của các hình khối cơ bản như hình vuông, chữ nhật, tam giác… đã được xem xét và xây dựng từ rất lâu trong lịch sử của con người. Trở về thời kì của Ai Cập cổ đại, hay sau này như Greek, Roman, các công trình còn lại đã cho loài người hiện đại một cái nhìn về lịch sử phát triển của khoa học hình khối mà cho tới nay chúng ta vẫn không khỏi trầm trồ khi chiêm ngưỡng các tòa kim tự tháp hay các đền thờ cổ xưa này. Các công trình này không những chỉ lớn về mặt kích thước mà còn tạo ra các cảm giác rất dễ chịu và cân bằng với người thưởng thức. 

Qua các nghiên cứu và đánh giá tỉ mỉ, người ta thấy rằng có một “tỉ lệ vàng” đã được các nhà điêu khắc, xây dựng, mỹ thuật áp dụng rất triệt để và hiệu ứng nó mang lại là rất rõ ràng, đó là tỉ lệ vàng.

Tỉ lệ vàng được diễn tả một cách toán học như sau: Trong toán học và nghệ thuật, hai đại lượng được gọi là có “tỷ lệ vàng” nếu tỷ số giữa tổng của các đại lượng đó với đại lượng lớn hơn bằng tỷ số giữa đại lượng lớn hơn với đại lượng nhỏ hơn. Tỷ lệ vàng thường được chỉ định bằng ký tự φ (phi) trong bảng chữ cái Hy Lạp (hellònh 2.10).

Như vậy ta có:  EQ F(a+b,a) =  EQ F(a,b) = φ

2. Hình chữ nhật vàng: Hình chữ nhật vàng là hình chữ nhật có tỉ lệ các cạnh rộng trên cạnh dài bằng 1: φ , tức là vào khoảng: 1/1.618. Cách lập một hình chữ nhật vàng theo phương pháp Le Corbusier được mô tả dưới đây (hình 2.11):

– Vẽ một hình vuông cạnh bằng 1 (đỏ).

– Vẽ một đoạn thẳng từ trung điểm của một cạnh đến một trong hai giao điểm của hai cạnh đối diện.

– Lấy đoạn thẳng vừa vẽ làm bán kính, vẽ một đường tròn. Đường tròn này sẽ định vị điểm thứ ba của hình chữ nhật tại giao điểm của đường tròn và cạnh chứa tâm đường tròn kéo dài.

3. Vòng xoắn ốc vàng hay đường xoắn ốc Fibonacci:  Khi đường xoắn ốc Lôgarit tiếp xúc trong với các cạnh của một chuỗi các hình chữ nhật vàng thì nó được gọi là đường xoắn ốc vàng. Các đường chéo của các hình chữ nhật vàng lại cắt hai vòng xoắn liên tiếp của đường xoắn ốc này theo chuỗi số Fibonnaci) được gọi là đường cong Fibonnaci. Ví dụ tỉ lệ vàng thấy ở thiết diện cắt qua một con ốc sên.

Đường xoắn ốc tiếp xúc với tất cả các cạnh của các hình vuông này (các cạnh là các số 34, 21, 13, 8,5 3, 2, 1 thuộc dãy số Fibonaci).

 
4. Tỉ lệ vàng trong kiến trúc và hội họa: Đây là tỉ lệ tượng trưng cho thẩm mỹ, cho tính cân đối của tự nhiên và tạo hóa. Các họa sĩ và các kiến trúc sư từ lâu đã biết cân đối kích thước các chi tiết trong công trình hay trong các bức vẽ của mình để đạt được sự hài hòa của tự nhiên.
 

– Đền Parthenon, Acropolis, Athens…: Nhìn vào hình vẽ ta dễ dàng nhận ra các tỉ lệ vàng xoay xung quanh một hình xoắn ốc vàng tưởng tượng. Có lẽ, chính nhờ sự thiết kế này, đền Parthenon mới đạt được sự hài hòa cân đối, và trở thành công trình kiến trúc có một không hai của Hy Lạp (hellònh 2.14).

– Tháp Rùa của Việt Nam. Tháp Rùa, theo tương truyền, do Bá Hộ Kim xây dựng (người thực sự thiết kế thì không rõ) lúc đầu với mục đích chôn cất thi hài cha. Việc không thành nhưng ngọn tháp ba tầng vẫn được hoàn tất. Vì vậy nên ban đầu tháp này có tên là Tháp Bá Hộ Kim. Tính cân đối của tháp rùa có được một phần do thiết kế theo tỉ lệ vàng. Nhờ đó, tháp rùa trở thành một trong những biểu tượng nối tiếng của Hồ Gươm, của Hà Nội, của Việt Nam.

– Bức tranh “Thiếu nữ bên hoa huệ” của họa sĩ Tô Ngọc Vân (Hellònh 2.16): Trong màu trắng phớt xanh, phớt hồng, một cô gái hơi nghiêng, đầu ngả trên cánh tay đang ngắm hoa. Dáng mềm mại của cô gái được tôn thêm bằng tư thế đặc biệt của hai tay: Cánh tay trái vòng qua đầu, đặt hờ lên mái tóc. Hai bông huệ to, nổi bật bởi màu trắng tinh khiết. Toàn bộ bức tranh như thì thầm kể với người xem về một cô gái trong trắng, thơ ngây, nhưng cũng đầy ưu tư cuộc sống. Chúng ta không biết khi vẽ bức tranh này hoạ sĩ Tô Ngọc Vân có vẽ phác trước đường xoắn ốc vàng ra không, nhưng việc “nhìn ra” đường xoắn ốc vàng như trên giúp ta cảm thụ bức tranh một cách đầy đủ hơn, và do đó thấy được sâu hơn vẻ đẹp của tác phẩm.

5. Tỷ lệ vàng trong các tác phẩm của Leonardo da Vinci: Đây là bức tranh bí ẩn nhất, gây tranh cãi nhiều nhất của danh họa Leonardo da Vinci. Từ bức tranh, ta có thể thấy khuôn mặt nàng Mona Lisa nằm gọn trong một hình chữ nhật vàng và cấu trúc phần còn lại của bức tranh cũng cấu trúc theo một vòng xoắn ốc vàng (hellònh 2.17). Không chỉ có thế, ta còn tìm thấy tỉ lệ này trong các bức tượng cổ điển nổi tiếng thần Venus. Tỷ lệ từ đầu tới ngực, tới rốn, tới đầu gối…( hellònh 2.18).

6. Tỉ lệ vàng ở các sản phẩm AppleHellònh 2.19: Ngay cả thời nay, tỉ lệ vàng vẫn luôn được các nhà thiết kế ưa chuộng sử dụng trong các sản phẩm của mình. Brand quả táo khuyết

 
của Apple thì ai cũng biết và rất nổi tiếng nhưng ít ai biết cách mà các nhà thiết kế đã tạo ra nó, hay nói cách khác là nó được vẽ ngẫu nhiên hay theo một tỉ lệ nào? Thật tuyệt vời khi người ta khám phá ra rằng emblem quả táo được thiết kế theo tỉ lệ vàng được giới hội họa và kiến trúc áp dụng trên những tác phẩm kinh điển. Cụ thể, Rob Janoff đã tạo nên emblem Apple dựa trên hình chữ nhật vàng và dãy số Fibonacci huyền ảo. Không chỉ có emblem quả táo, emblem iCloud mới đây, emblem Mac OS Lion, iPhone Four cũng chịu ảnh hưởng từ tỉ lệ vàng (Golden Ratio). Không chỉ có emblem, mà Apple còn được cho cũng sử dụng tỉ lệ vàng vào thiết kế phần cứng như với iPhone 4. Hình dáng của IPhone Four là một hình chữ nhật vàng với các chi tiết bên trong tuân theo quy luật này. Tỉ lệ vàng còn được tìm thấy ở việc sắp xếp vị trí jack tai nghe, ăng-ten sóng gần đó, micro phụ và cụm digital camera/đèn flash phía sau máy.

7. Tỉ lệ vàng trong tự nhiên: Không chỉ dừng lại ở các tác phẩm hội họa và các công trình kiến trúc, tỉ lệ vàng, một tỉ lệ của tự nhiên và thực tế nó gắn với các hiện tượng tự nhiên một cách đáng ngạc nhiên.

Vóc dáng con người có sự liên quan với tỷ lệ vàng. Cái đẹp của  con người ở đây có lẽ là sự cân đối về vóc dáng. Dưới đây là một số tổng kết tỷ lệ trên cơ thể con người:

Ø  Chiều cao / đỉnh đầu đến đầu ngón tay = Ф

Ø  Đỉnh đầu tới đầu ngón tay / đỉnh đầu tới rốn (hoặc cùi chỏ) = Ф

Ø  Đỉnh đầu tới rốn (hoặc cùi chỏ) / đỉnh đầu tới ngực = Ф

Ø  Đỉnh đầu tới rốn (hoặc cùi chỏ) / chiều rộng đôi vai = Ф

Ø  Đỉnh đầu tới rốn (hoặc cùi chỏ) / chiều dài cẳng tay = Ф

Ø  Đỉnh đầu tới rốn (hoặc cùi chỏ) / chiều dài xương ống quyển = Ф

Ø  Đỉnh đầu tới ngực / đỉnh đầu tới gốc sọ = Ф

Ø  Đỉnh đầu tới ngực / chiều rộng của bụng = Ф

Ø  Chiều dài của cẳng tay / chiều dài bàn tay = Ф

Ø  Vai đến các đầu ngón tay / khuỷu tay đến các đầu ngón tay = Ф

Ø  Hông đến mặt đất / đầu gối đến mặt đất = Ф

Ø  Gọi độ dài từ rốn lên đến đỉnh đầu là x, độ dài từ rốn xuống đến chân là y. Độ dài một dang tay gọi là a. Nếu x/y = a/(x+y) = 1,618 = Ф, thì đó là thân hình của các siêu người mẫu.

8. Tỉ lệ vàng ở khuôn mặt người: Hellònh 2.21, là một khuôn mặt có lẽ thật sự hoàn hảo vì có một tỷ lệ khuôn mặt cân đối. Và ta luôn tìm thấy tỉ lệ vàng ở những tuyệt tác tự nhiên ấy. Như vậy tỉ lệ vàng hay tỉ lệ hoàn mỹ, không chỉ để định nghĩa về vóc dáng, mà còn về khuôn mặt thế nào là đẹp.

 Tỉ lệ vàng trên họa tiết của một con bướm ” chuẩn” (hellònh 2.22). Một con bướm có kích thước và hình hoa văn trên cánh được sắp xếp ngẫu nhiên theo đúng tỷ lệ vàng.

 Tỉ lệ vàng và vũ trụ: Trong vũ trụ có rất nhiều thiên hà xoắn ốc theo đúng tỉ lệ của đường xoắn ốc vàng. Ví dụ dải ngân hà NGC 5194 cách dải ngân hà của chúng ta 31 triệu năm ánh sáng. Một cơn bão cũng có một hình dạng tỷ lệ vàng tương tự.

  Tỉ lệ vàng và bản chất con người: Vật chất di truyền ở mức độ phân tử của con người là phân tử AND. Mô hình không gian của phân tử này gồm hai chuỗi xoắn kép quanh một trục tưởng tượng. Và điều tuyệt vời là kích thước của mô hình cấu trúc này cũng cân đối chằn chặn theo tỉ lệ vàng.

Tóm lại hình dạng thị giác trong nghệ thuật là một khái niệm có tính tiền đề và cơ bản để bộ môn nghệ thuật xây dựng nên những nguyên tắc, nguyên lý, quy luật về bố cục tạo hình, sao cho toàn bộ tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh về phương diện thẩm mỹ thị giác (tạo hình). Tạo cơ sở cho chủ đề và thông điệp của tác phẩm được thăng hoa.

Mỗi một chủ đề, ngôn ngữ thủ pháp thể hiện  của mỗi cá tính tác giả, không thời gian khác nhau, sẽ cho ra những tác phẩm có tính sáng tạo khác nhau.

Yếu tố này góp phần cho mỗi sinh viên khi sáng tác nắm vững được yêu cầu nghề nghiệp, chuyên môn, trau dồi kỹ năng và thủ pháp sáng tác. Hiểu kỹ yếu tố tỷ lệ này, cũng sẽ hỗ trợ đắc lực cho sinh viên điêu khắc xác định khoảng cách tâm lý trong sáng tác một cách hợp lý hơn.

Như vậy muốn sáng tác một tác phẩm nghệ thuật, ta cũng cần phải thông hiểu một số yếu tố có tính kiến thức nền, cơ bản nhất, sẽ tạo tiền đề cho sự sáng tác và cảm thụ nghệ thuật.

Thiếu những kiến thức này, sẽ rất khó khăn, khi nỗ lực muốn sáng tạo một tác phẩm có sự biểu cảm nghệ thuật rõ ràng. Và rõ ràng lúc này, tác phẩm sẽ khó có chỗ đứng với thời gian để hoàn thành các sứ mạng đặc biệt quan trọng của nó trong đời sống văn hóa con người.

2.5. Tập hợp thị giác với không gian 3D trên máy tính.

Trong thực tế cũng như khi bố cục một tác phẩm điêu khắc, chúng ta phải sử dụng nhiều tập hợp khối, diện, mảng với nhiều kích thước và thể tích khác nhau xắp xếp làm sao vừa thỏa mãn kinh nghiệm xúc cảm thẩm mỹ, vừa thỏa mãn khoảng cách hợp lý giữa các kích thước khối khác nhau đó. Tức là giữa các khối có kích thước khác nhau sẽ có những khoảng cách hợp lý khác nhau. Các khối liên hệ với nhau mà thay đổi kích thước, khoảng cách này sẽ phải bị điều chỉnh. Một tập hợp rất nhiều khối sắp xếp lại với nhau để tạo thành một bố cục, sẽ có sự góp mặt của rất nhiều tập hợp gồm nhiều hình dạng thị giác. Một bố cục nghệ thuật tạo hình sẽ là một tập hợp thị giác bao gồm rất nhiều tổ hợp khối lớn nhỏ khác nhau được sắp xếp theo những nguyên tắc và quy luật bắt buộc của nghệ thuật tạo hình.

Trong một bố cục điêu khắc có nội dung chủ đề, nguyên tắc bắt buộc phải tạo ra được một số các loại khối với kích thước lớn nhỏ khác nhau. Nói chung là ba loại khối lớn, khối nhỏ và khối trung gian. Trong mỗi loại đó, cũng tồn tại ba loại tương tự, nhưng nhỏ hơn. Tính chất và nhiệm vụ các khối lớn có tính chủ đạo, còn các khối chi tiết nhỏ nhằm lột tả thêm bản chất, nội dung của đối tượng. Giữa hai loại khối này lại phải có thêm khối trung gian nhằm cân bằng cả về tâm lý (nghệ thuật) lẫn vật lý hai loại khối trên.

Có thêm một nguyên tắc chung nữa, nếu ta gọi các loại khối tồn tại trong một bố cục lần lượt từ lớn tới nhỏ là A,B,C. Thì khối lớn trong B không được lớn hơn khối lớn trong A. Tương tự cho loại C với B. Giống như trong hội họa, sắc độ sáng nhất trong mảng trung gian không thể sáng bằng sắc độ sáng nhất của mảng sáng. Nếu thứ tự này bị xâm phạm, mọi ý đồ sắp xếp khối trong ý tưởng phác thảo sẽ bị hỗn loạn, méo mó, mất cân bằng khối…, ý tưởng của tác phẩm sẽ thất bại mà không thể thực hiện được trọn vẹn.

Ta có thể một ví dụ các khối trên cơ thể con người. Trên cơ thể con người là một tập hợp các loại khối như phần lồng ngực (loại A – khối lớn nhất), khối hông và đầu (loại B – khối trung gian). Và khối tứ chi (loại C – khối nhỏ).

Khối lồng ngực sẽ có các khối chi tiết như khối bầu ngực, khối bụng… Còn khối đầu sẽ có các khối chi tiết lần lượt từ lớn tới nhỏ là khối sọ, khối miệng, khối gò má, khối mũi, tai và mắt…Trong một chừng mực nào đó, khối sọ… không thể lớn hơn các khối lồng ngực được. Vì như vậy sẽ gây mất cân bằng nghiêm trọng cả về tâm lý, vật lý.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rất nhiều tập hợp thị giác gồm nhiều khối với nhiều kích thước xen kẽ nhau, ảnh hưởng nhau, tôn nhau lên nếu khoảng cách giữa các khối hợp lý và có thể dìm nhau xuống, hoặc triệt tiêu nhau nếu cũng những khoảng cách đó không hợp lý.

Trong sáng tác điêu khắc trên máy tính, khi bố cục khối, ta còn phải chú ý đến hiệu quả của lực thị giác. Sắp xếp tập hợp khối thế nào để khiến tác động của lực thị giác có hiệu quả nhất. Có sức hút hồn mắt nhất.

Tức ngoài hiệu ứng tâm lý (chủ đề hấp dẫn, lôi kéo…) thì sức hút của một tập hợp có hiệu quả khối đẹp, cũng sẽ tăng khả năng lôi kéo người xem. Có nghĩa khi mà các khối có một khoảng cách nào đó với nhau, nảy sinh một lực thị giác hấp dẫn đến nhau, khiến cho mắt ta khi nhìn khối này thì phải tiếp tục nhìn tiếp khối kia bất kể khoảng cách. Và dưới mắt ta chúng trở thành một tập hợp khối liên kết có tính cấu trúc, không thể tách rời. Nếu thiếu đi một khối nào đó trong một tập hợp khối chúng ta cảm thấy khó chịu, và tập hợp khối đó cũng mất đi tính tổng thể hoàn chỉnh.

 
 
 

Cũng giống như cấu trúc con người có đầy đủ các bộ phận. Nhưng xét trên tổng thể, tập hợp của các khối đầu, mình, tứ chi, thì tạo thành một chỉnh thể hoàn tất. Nay thiếu đi phần chân, ta cũng cảm thấy toàn bộ cơ thể con người đó bị thiếu hụt, mất mát với sự trống trải, hẫng hụt về tâm lý… 

Với một mô hình nhân vật hoàn chỉnh, một bố cục đầy đủ, với tập hợp khối được sắp xếp thuận mắt cân đối, chủ đề trong sáng, sẽ lập tức tạo được những cảm xúc thẩm mỹ cho người xem. Trong quá trình học tập của mình, sinh viên điêu khắc sẽ được trải nghiệm qua các bài học tập của mình, sẽ ngày càng nhận thức rõ hơn vấn đề này.

2.6. Chuyển động thị giác với không gian 3D trên máy tính.

Chuyển động thị giác trong bố cục tạo hình, suy cho cùng đó là chuyển động thuần túy tâm lý. Với một chuyển động thật ngoài thực tại, ta có thể diễn tả lại được chúng trên một hệ tọa độ bốn chiều. Ngoài hệ tọa độ ba chiều và thêm chiều thứ tư là thời gian để mô tả thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc chuyển động. Nhưng trong một bố cục sáng tác, không hề có khái niệm thời gian. Vì vậy khái niệm của chuyển động trong bố cục chỉ là một khái niệm thuần túy tâm lý. Chúng tùy thuộc vào sự liên tưởng của mỗi cá nhân để mô phỏng lại, liên tưởng đến, và kinh nghiệm thực tại để quyết định tới khái niệm này có tồn tại hay không trong một bố cục.

Ngoài các tác phẩm nghệ thuật, tâm lý này còn tồn tại khá rõ nét trong cuộc sống xã hội con người. Vì đặc tính của nó thuộc về tâm lý, nên nó tồn tại ở cả hai loại tâm lý, đó là kinh nghiệm trong cuộc sống, và tâm linh qua thời gian trải dài suốt lịch sử tồn tại của con người.

 


Về mặt tâm linh, hình ảnh kiến trúc mái đầu đao quá sức quen thuộc của đình chùa miền Bắc Việt Nam, minh chứng sự chuyển động tâm linh này tồn tại khá rõ trong cuộc sống chúng ta từ lâu. Đây là một chi tiết có kết cấu kiến trúc hoàn chỉnh trong một tổng thể kiến trúc. Chắc hẳn không phải tự nhiên chúng có cấu trúc đầu đao đó. Các miếu mạo đền chùa phía miền trong cũng có hình dạng tương tự (hình 2.26b).

Quan niệm của cha ông ta từ ngày xưa đến nay, mọi kết cấu đường thẳng chiếu trực diện vào nhà, bất kể hướng nào, sẽ tạo một chuyển động thường xuyên tác động vào nhà và gây ảnh hưởng xấu (về tâm linh) cho những người sống trong căn nhà đó. Cũng giống như một cảm giác bất an khi trước mắt mình lúc nào cũng có một cây bút chì nhọn thường xuyên chĩa vào mắt mình. Kinh nghiệm tâm lý sẽ cho rằng, có thể bất cứ lúc nào cây bút chì đó sẽ chuyển động và đâm thẳng vào mắt mình. Hiệu quả tâm lý sẽ giống hệt nhau trong cả hai trường hợp với cây bút chì. Và trong cả hai trường hợp này, người ta phản ứng đều giống nhau, tức là phải vứt cây bút chì đi hay dùng giải pháp gì đó tương tự để cây bút chì không phát tác được hiệu ứng tâm lý. Như vậy rõ ràng mái đầu đao của các đình chùa đã giải quyết được triệt để vấn đề này. Các đường thẳng của các kèo cái chính trên mái, và các góc cạnh của mái đã được chuyển hướng không đi thẳng nữa, mà chuyển thành đường cong hình lưỡi đao hướng lên trời. Do vậy sẽ tránh được tác hại cho các khu nhà lân cận lỡ bị các đường thẳng đó chiếu vào.

Còn trong cuộc sống, nếu đối diện một hình ảnh bao gồm có hình tròn nằm trên cùng một đỉnh dốc, lập tức ta sẽ liên tưởng tới một chuyển động của một bánh xe bắt đầu lao xuống dốc. Rõ ràng là xã hội đã có kinh nghiệm thực tại về sự chuyển động thật sự của một hình dạng thị giác nào đó mà không bao gồm yếu tố thời gian trong đó.

Đây là tiền đề quan trọng cho những bố cục sáng tác nhằm chuyển tải được thông điệp của chính tác giả tới người xem. Bởi vì bản chất của một tác phẩm nghệ thuật là chuyển đi một thông điệp có chủ đề rộng và bao trùm tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống con người. Những thông điệp này phải thực sự sống động, không những trong hiện tại và còn cả trong tương lai để bảo toàn sứ mạng mà nó nhận lãnh. Sự sống động theo kinh nghiệm thực tại của con người thì chúng phải có yếu tố chuyển động. Cái gì không chuyển động, cái đó chết. Bố cục tác phẩm lại hoàn toàn là những hình dạng thị giác hai chiều, ba chiều thuần túy không có sức sống. Vì vậy làm sao để biến tất cả những hình dạng thị giác đó trở thành sống động, một hình tượng nghệ thuật. Công việc sáng tác đòi hỏi một vốn sống, một trải nghiệm lâu dài của nghệ sĩ tạo hình…

Mỗi nghệ sĩ khi sáng tác đòi hỏi phải tìm tòi, nghiên cứu sáng tạo ra những bố cục bao gồm nhiều tập hợp hình dạng thị giác có tính chất điển hình nhất, chung nhất, gần gũi nhất khiến cho nhiều người có thể liên tưởng và dùng kinh nghiệm của chính họ để trải nghiệm và cảm thụ tác phẩm. Trong lịch sử mỹ thuật từ trước đến nay, có lẽ con người là đối tượng được miêu tả và là đề tài sáng tác nhiều nhất của các nghệ sĩ sáng tác. Có lẽ là nguyên nhân này chăng, vì đã là con người thì phải sống, là con người thì phải chuyển động trong bất kỳ hình dạng, động tác nào… Dù ở thế dạng nào, người ta cũng có thể liên tưởng tới các động tác sắp diễn ra theo kinh nghiệm của mình.

Ngoài ra, khi kinh nghiệm trong thiên nhiên của con người cũng giúp người sáng tác dễ dàng tạo ra các hình tượng dễ liên tưởng tới sự chuyển động. Như hình ảnh một cơn sóng dữ, một trận cuồng phong làm rung cây đổ cành… Những họa tiết hoa lá chim thú, cũng một phần nào đó gây hiệu quả chuyển động bởi chúng đã quá quen thuộc với con người. Một cái lá giữa không trung cũng có sự lay động của một cơn gió nhẹ nhàng nhất. Các hiệu ứng gây nhận thức về chuyển động thị giác của đường, nét, khối đã được rất nhiều tác giả trong giới nghiên cứu phê bình mỹ thuật viết và bàn tới. Chúng phụ thuộc vào các sự tương giao với nhau theo khoảng cách, định hướng, to nhỏ, sáng tối, âm dương. Có bất cứ sự liên hệ tiên quyết nào giữa chúng, sẽ sẵn sàng có sự bùng nổ của sự chuyển động tâm lý phát sinh trong người xem theo quán tính kinh nghiệm của thực tại. Sinh viên có thể tìm đọc và tham khảo về điều này từ cuốn “Tiếng nói của hình và sắc” của Nguyễn Quân…


Trên máy tính, có lẽ lợi thế nhất cũng lại là một cái nhược là sự chuyển động của khối được hỗ trợ tối đa của phần mềm. Vì vậy, ta có thể nhầm lẫn giữa sự chuyển động do máy tính tạo ra và giá trị chuyển động tâm lý thật sự của tác phẩm. Nó đòi hỏi sinh viên phải quan sát và thẩm định rất kỹ lưỡng hai giá trị chuyển động này. Một cái nhất thời, một cái là vĩnh viễn. Một cái là tâm lý, một cái là mô phỏng chuyển động thật theo thời gian. Phân biệt giữa hai cái này, có lẽ theo thời gian trải nghiệm, tính tích cực được phát huy, còn tính tiêu cực sẽ được khắc phục.

2.7. Sự biến hình và tính đa dạng phong phú trong cảm nhận thị giác, các quy luật về đối chiếu và liên tưởng.

Ở phần trên ta đã đề cập tới hình dạng thị giác, và một tỷ lệ vàng xuất hiện khách quan trong tự nhiên và sự vận dụng chúng trong sáng tác nghệ thuật một cách có ý thức hay tình cờ ngẫu nhiên. Nhưng trong thực tế sáng tác, có nhiều nghệ sĩ không áp dụng hoặc không cần biết tới tỷ lệ vàng này. Bởi trong xã hội con người còn có nhiều mức độ chuẩn cho phép và chấp nhận được trong sáng tác. Đây cũng chính là sự mở đầu phong phú cho nghệ thuật tạo hình, cho các thủ pháp, nội dung, trường phái, phong cách…

Một ví dụ cho chúng ta thấy là chuẩn đẹp về nhân thể học cho con người ở các khu vực các châu lục trên thế giới hoàn toàn khác nhau. Người châu Á, tỷ lệ chiều cao là 6,5 đầu. Người châu Âu là Eight đầu…Chúng ta không thể lấy cái đẹp của người châu Âu so với người châu Á, và kết luận người châu Á không đẹp. Ta có thể suy luận với nhiều tính chất khác trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình. Chúng ta có thể lấy một ví dụ nữa, với loài cóc ngoài thực tế, khi nhìn thấy chúng, ít ai dám can đảm lại gần, bắt chúng bỏ lên tay. Nhưng qua lăng kính nghệ thuật của các nhà điêu khắc, chúng đã trở thành những con Thiềm thừ đáng yêu ngồi chễm chệ trên các ban thờ thần Tài .

Với sự sáng tạo và tưởng tượng, xuất phát từ các đối tượng có thật trong cuộc sống “làm cớ” cho nghệ sĩ nghiên cứu, người nghệ sĩ có thể đã lột tả được bản chất cái đẹp của thế giới dù nó có tồn tại dưới bất kỳ hình dạng nào. Và cũng tạo một khoảng cách tâm lý khiến thực dụng không thể áp đảo được cảm xúc mỹ cảm của người xem. Đây là một giá trị hết sức nhân văn của nghệ thuật thị giác. Dù bản chất cuộc sống có tàn độc đến đâu chăng nữa, dưới con mắt của nghệ thuật, thì bản chất sâu xa hơn nữa vẫn là tốt đẹp, bởi nó đã được tạo hóa sinh ra trên thế giới này, ắt hẳn sẽ có một mặt tốt đẹp nào đó. Bản chất tốt, xấu, bi, hài, các mặt của một bản thể đã được môn mỹ học nghiên cứu dưới những phạm trù hết sức khoa học. Đó chính là cái đẹp, cái bi, cái hài, cái xấu. Nghệ thuật còn có chức năng cải tạo cái xấu để bản chất cái đẹp vốn có sẵn trong mỗi sự vật được hồi phục và phát triển. Sinh viên có thể nghiên cứu kỹ lại khi đã học qua môn mỹ học này.

Trong sáng tác, sự biến hình (hay sự đa dạng của hình dạng thị giác) và sự đối chiếu liên tưởng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tính chất sống động trong tác phẩm sẽ được cảm nhận nếu các hình dạng thị giác gợi được sự đối chiếu và liên tưởng tới một đối tượng có thật nào đó (cả vật chất và tinh thần), qua đó người xem sẽ cảm thấy tác phẩm gần gũi, và thật sự hiểu được nội dung và thông điệp của tác phẩm. Tạo được sự đối chiếu và liên tưởng, là một trong những thành công đầu tiên thu hút người thưởng thức. Bước tiếp theo chinh phục độc giả chính là thủ pháp, phong cách cũng như nội dung độc đáo cá tính của tác giả.

Trong thực tế, ngoài các hình kỷ hà cơ bản đầu tiên, thế giới thị giác còn rất nhiều hình biến thể gần gũi với chúng. Hình tròn có biến thể là hình elip, hoặc hình trứng (đầu to đầu nhỏ), trái xoan, ô-van… Còn hình chữ nhật có các biến thể là hình thoi, hình vuông, hình bình hành, hình thang…Chúng với những tỷ lệ khác nhau sẽ tạo ra muôn màu, muôn mặt, muôn hình dạng xuất hiện trong cuộc sống thiên nhiên và xã hội con người. Nắm bắt và khái quát hóa các hình dạng đó, chuyển chúng thành những tín hiệu thị giác khái quát điển hình chính xác với bản chất từng đối tượng nghiên cứu, ta sẽ chắc chắn gây được hiệu ứng đối chiếu và liên tưởng tới đối tượng đó trong thực tế.

 
 
 
 
 
 
 
 
Ta xem những hình trên: bảy nhóm tượng khi xem chúng ta đều có sự liên tưởng đầu tiên. Đó là các tác phẩm đều đang đề cập tới hoạt động trong xã hội loài người. Các thủ pháp thể hiện, trường phái nghệ thuật, phong cách, sự cách điệu của khối khác nhau. Dù cho các hình dạng thị giác bị bóp méo, biến dạng đến đâu chăng nữa, nhưng chúng vẫn có một điểm chung. Đó là sự liên tưởng tới các sinh hoạt xã hội con người mà không thể liên tưởng tới các loài động vật khác tương tự như con khỉ, đười ươi, hay vượn…Nguyên nhân chính là tỷ lệ của các hình trong tác phẩm đã được đối chiếu và liên tưởng tới tỷ lệ của con người. Trong các tác phẩm này, tỷ lệ giữa các khối mảng, gần giống tỷ lệ giữa các bộ phận trên cơ thể người. Nên chúng rất dễ dàng khi đối chiếu và liên tưởng tới con người. Chính vì tỷ lệ trên tác phẩm khá chính xác với tỷ lệ người thật, nên kinh nghiệm thực tại không cho phép sự liên tưởng khác với liên tưởng tới con người. Thậm chí chỉ với những khối cực kỳ đơn giản, dù khối mảng có bị biến đổi cách điệu như thế nào đi nữa, nếu giữ đúng tỷ lệ như trên cơ thể con người, ta vẫn chỉ liên tưởng duy nhất tới sự hoạt động đặc trưng của con người mà tác phẩm muốn đề cập tới.
 
Như vậy dù với phong cách và trường phái nào đi chăng nữa, nếu không nắm bắt được bí quyết tỷ lệ. Tác phẩm rất khó thành công trong thể hiện ý tưởng và chủ đề theo đuổi. Đây là lý do vì sao trong các trường chuyên nghiệp phải có những bài học nghiên cứu cơ bản như giải phẫu học, hình họa, nghiên cứu tượng tròn, phù điêu toàn thân trực tiếp với người mẫu nude. Rất nhiều học sinh coi nhẹ những bài học nghiên cứu này. Một số sinh viên dễ rơi vào trạng thái khó khăn về tâm lý, cảm xúc thẩm mỹ không thể phát khởi nếu sinh viên không muốn học. Các trường Đại học nghệ thuật Thái Lan, thậm chí ngoài tỷ lệ mẫu người, sinh viên còn phải nghiên cứu mẫu bộ xương người thật, xương trâu bò, và các loài vật (hình 2.36 và hình 2.37). Sự sáng tạo phải được phát triển trên nền kiến thức cơ bản, đó chính là kiến thức về tỷ lệ của muôn loại, muôn vật…

Ngoài các dạng liên tưởng về tỷ lệ, còn rất nhiều sự liên tưởng khác phụ thuộc vào trải nghiệm sống và thực tế của từng cá nhân. Đó là những liên tưởng về các giá trị tinh thần. Nhìn hình vuông và hình tròn, có lẽ một số lớn sẽ liên tưởng tới câu chuyện cổ tích về Trời đất, về Lang Liêu với sự tích bánh chưng bánh dày. Trong mỗi cuộc đời chúng ta phải có những khoảnh khắc khi chứng kiến thấy một hình ảnh sâu đậm nào đó, sự kiện quan trọng nào đó thì những hình ảnh liên tưởng ào ạt kéo tới. Chỉ cần nhìn lại một bức tranh với cánh đồng lúa vàng rực, có thể với một số người, những kỷ niệm ký ức của cả một thời thơ ấu nông thôn vùn vụt kéo về. Chúng rõ ràng đến mức như một cuộn phim quay chậm hiện ra trước mắt ta. Mặc dù bình thường ta khó có thể nhớ tới chúng.

Chỉ cần coi lại một bức ký họa chân dung xấu xí của thời sinh viên năm thứ nhất, tất cả hình ảnh thời ấy lại hiện về rõ mồn một. Những vui buồn về cuộc sống tình cảm của ta sống động trở lại trong tâm trí. Khi xa quê hương, xa một mối tình, con người thường có xu hướng muốn lưu giữ những kỷ vật mà khi nhìn nó, đủ sức gợi nhớ lại những hình ảnh, sự kiện không muốn quên. Sự liên tưởng đã là bản năng tinh thần bẩm sinh của con người. Đây quả là một yếu tố hỗ trợ tuyệt vời cho các tác phẩm muốn đi vào lòng công chúng. Cách đây không lâu, một số tác giả đã sưu tập và cho triển lãm một số tác phẩm, đồ vật, tem phiếu thời bao cấp. Một thời mà chắc hẳn chưa bao xa, nhiều người còn sống hiện nay đã trải qua và lưu giữ nhiều kỷ niệm thực tại khó quên trong đó. Có lẽ đây là một ví dụ cho một sự liên tưởng có chủ đích rõ ràng của nhóm tác giả này muốn hướng tới. Chỉ cần thấy cái tem phiếu, sổ gạo thời ngày đó, cảnh xếp hàng xếp gạch mua bán với những hình ảnh liên tưởng về thời ấy không thể nào quên cho những ai đã từng sống.

Quy luật liên tưởng và đối chiếu quả hết sức quan trọng khi cấu thành giá trị nội dung hàm chứa trong nó. Một bức tranh mà không gợi được một liên tưởng nào cho người xem, qua đó gây được một sự chấn động về tâm lý thẩm mỹ thì tác phẩm có lẽ chưa thành công.

Tóm lại, muốn quy luật đối chiếu và liên tưởng phát huy hết được mặt tích cực của nó, ngoài hiểu biết và vận dụng tỷ lệ vàng, còn phải nắm được những tỷ lệ đặc thù, đặc trưng của những đối tượng mình đang nghiên cứu và sáng tác. Giữ được tỷ lệ đặc thù, thì dù hình dạng có biển đổi thế nào đi chăng nữa, có băm nát tác phẩm thành bao nhiêu mảnh đi chăng nữa, có theo trường phái nào đi chăng nữa, thì giá trị nội dung hàm chứa chủ đề và giá trị hình thức nghệ thuật của tác phẩm vẫn vẹn toàn.  Đây là một yếu tố quan trọng và tiên quyết của sự thành công trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật.

2.8. Cân bằng thị giác với không gian 3D trên máy tính.

 Trong một tác phẩm nghệ thuật, sẽ phải có hai giá trị tồn tại trong đó. Thứ nhất là giá trị nội dung hàm chứa về xã hội, hay giá trị nhân văn của tác phẩm. Thứ hai là giá trị về hình thức nghệ thuật, tức giá trị về ngôn ngữ đặc thù của loại hình nghệ thuật biểu hiện. Nếu cả hai giá trị được cộng hưởng và tương tác với nhau, giá trị chung của tác phẩm sẽ thăng hoa. Một pho tượng tình yêu đẹp đẽ êm đềm, mà lại dùng những khối cực kỳ khô cứng, vuông thành sắc cạnh, thì giá trị chung của tác phẩm cũng có thể giảm đi phần lớn. Nếu đang diễn tả một không khí vui tươi, ồn ào của một lễ hội nào đó mà lại thể hiện theo tính chất khối trang nghiêm, cân đối thì không thể có sự hòa hợp giữa hai giá trị. Về mặt biểu hiện hình thức nghệ thuật, có một yếu tố mang tính quyết định mà ta cần phải chú ý đặc biệt. Đó là tính cân bằng trong bố cục.

Trong cuộc sống, sự chuyển động phải là một không gian 3 chiều gắn với một khoảng thời gian nào đó. Nếu không có thời gian, cũng sẽ không có sự chuyển động.

Nhưng trong nghệ thuật điêu khắc, đề cập đến tính chuyển động của một tác phẩm loại hình điêu khắc, hay là cách dùng hình thức ngôn ngữ khối biểu cảm để hỗ trợ sự liên tục, chuyển động của các giá trị thông điệp ẩn chứa trong tác phẩm. Tức là hỗ trợ làm rõ giá trị nội dung ám chỉ có một sức sống đang tồn tại và chuyển động.

Mặt khác, điêu khắc tạo hình là một loại nghệ thuật thị giác. Tức là một loại hình nghiêng về ngôn ngữ hình tượng, tồn tại trong một không gian nhất định, thiếu vắng yếu tố thời gian thực. Vì vậy, trong sự chuyển động nội tại của mình, vẫn phải bắt buộc nằm trong một sự cân bằng nào đó của hình thể, mới có thể tồn tại hợp lý trong một không gian điêu khắc ba chiều.

Trong quá trình nghiên cứu lịch sử phát triển của mỹ thuật, giới nghiên cứu đã đúc kết và tổng hợp thành một số lý thuyết về bố cục nghệ thuật. Đã có rất nhiều các quy luật, quy tắc, rồi nguyên tắc nhằm hệ thống và lý thuyết hóa để các hậu sinh có thể tạm thời làm nền tảng vững chắc, đỡ mất đi nhiều thời gian quý báu trên con đường mò mẫm sáng tác nghệ thuật. Sau khi đã đứng vững trên nền tảng với những hệ thống quy luật bố cục của những người đi trước, mới có thể tìm ra con đường đi riêng cho mình.

Để dẫn về sự cân bằng trong cuộc sống, ta thấy có hai sự cân bằng theo dạng sau đây:

– Cân bằng tĩnh.

– Cân bằng động.

Sự cân bằng tĩnh, là hình ảnh của cái cân đĩa. Nó cân bằng được là nhờ trọng lượng hai bên bằng nhau, và sự liên tưởng qua tác phẩm là hình dạng thị giác phải có sắp xếp khối mảng thế nào đó đối xứng qua một trục, hoặc mặt phẳng giữa bố cục. Sự cân bằng này xảy ra khi hai bên có sự đăng đối và bằng nhau về khối mảng.

Nhưng do tính biến hình phong phú đa dạng, chúng còn có những biến thể như đăng đối tương đối, đối xứng qua tâm, đối xứng qua trục ngang…

 Sự cân bằng thứ hai là hình ảnh và tính chất của chiếc cân móc. Ở đây, sự cân bằng xảy ra mặc dù hình dạng hai bên không bằng nhau. Ta nhận thấy bố cục có sự cân bằng vật lý, tức là khối mảng hai bên hoàn toàn không tuân theo bất cứ một quy luật đối xứng nào, nhưng vẫn có thể cảm nhận được chúng cân bằng theo nguyên lý đòn bẩy. Giới chuyên môn gọi đó là bố cục phá thế, hình mảng không đều nhau, hay cân bằng ẩn… Nhưng có lẽ gọi chính xác hơn phải là cân bằng động. Có nghĩa là nó có tính chuyển động về biểu hiện hình thức, do sự sắp xếp tập hợp các hình dạng thị giác mất cân đối nội tại. Trong khi đó, hình dạng toàn bố cục vẫn đang có xu hướng cân bằng ở dạng tâm lý hay vật lý, hoặc cả hai.

Trong thực tế có rất nhiều minh chứng về sự tồn tại của dạng cân bằng động này. Một con mèo rơi từ trên cao xuống, nó luôn luôn tạo được thế cân bằng khi rơi (hình 2.40). Một con người đang thực hiện động tác chạy, trong bất cứ ở thời điểm nào của động tác chạy, hình thể con người luôn ở thế cân bằng động. Khi chạy, lúc ở tư thế ngả người về trước, trọng tâm dồn về trước, bắt buộc chân tự do phải đưa lên đỡ trọng tâm. Và trọng tâm luôn được giữ ở khoảng giữa hai bàn chân theo sự điều chỉnh tự động của các cơ quan cân bằng tự động trong cơ thể người. Người xem cảm thấy an toàn khi thế cân bằng được xác lập. Ngay cả thời điểm toàn thân trên cao, dù đang ở dáng động (chạy) ta vẫn thấy một sự thăng bằng thỏa mãn cả về tâm lý (vận động viên không thể ngã) và vật lý (hình dạng thị giác rất cân bằng, không bị lệch trục).

 
 
 
 

Nếu ta đang thực hiện sáng tác trên máy tính, sự quán xuyến về vấn đề này khá dễ dàng. Nhờ những sự hỗ trợ tích cực của các thiết lập trong phần mềm 3D (Zbrush), ta có thể kiểm tra, sửa chữa các khối mảng tổng thể rất nhanh chóng. Thậm chí ta có thể tìm ra ngay trọng tâm của tổng thể tổ hợp các khối có trong bố cục để có thể đánh giá cân bằng khối. Qua đó gia giảm hoặc tăng thêm khối. Điều này trong thực tế là rất khó. Chỉ có thể được đánh giá bằng kinh nghiệm thực tế và cảm nhận theo bề dày kinh nghiệm sáng tác.

Như vậy cân bằng tĩnh, chính là các quy luật như đối xứng tuyệt đối hay đối xứng đăng đối, đối xứng qua tâm, đối xứng qua đường trục. Trong điêu khắc còn có thêm đối xứng qua một mặt phẳng, hoặc diện nào đó. Ngoài ra còn có đối xứng tương đối, tức là trong tổng thể chúng có vẻ như tuyệt đối, nhưng có một vài chi tiết hai bên có vẻ không giống nhau. Quy luật này hay được dùng nhiều kiến trúc miếu mạo, đình chùa, hoặc cung điện lăng tẩm. Bởi tính tĩnh lặng uy nghiêm, mang đầy tính chất thần bí tâm linh.

Còn cân bằng động thỏa mãn được tính sáng tạo, luôn luôn đổi mới của hầu hết các nghệ sĩ sáng tác, nên chúng thường được sử dụng nhiều hơn. Sự biến hình của quy luật cân bằng động hết sức phong phú. Hầu như không tác phẩm nào giống tác phẩm nào từ khi lịch sử mỹ thuật phát triển tới nay. Sự biến hình của quy luật cân bằng động này phong phú đến mức có thể nói như một viên gạch ném lên trời, và khi rơi xuống đất, không bao giờ thiếu điểm cho nó tiếp đất. Chính vì vậy, sự sáng tạo mới lạ luôn đi cùng nghệ thuật tạo hình cho đến khi nào không còn tồn tại xã hội loài người. Con người còn tồn tại, xã hội còn tồn tại, nghệ thuật tạo hình sẽ còn mãi sự sáng tạo với biểu hiện mới lạ, độc đáo của từng tác phẩm nghệ thuật.

Cân bằng còn có tính tâm lý. Nếu ta sắp xếp một bố cục dù có chặt chẽ cân bằng đến đâu về mặt hình dạng thị giác, ví dụ như đăng đối tuyệt đối về hình dạng. Nhưng khi ta thể hiện chi tiết là những cơ thể người lộn ngược, đầu xuống đất, chân lên trời… Hoặc cung cấp một số liên tưởng và đối chiếu bị ngược so với kinh nghiệm thực tế, thì người xem vẫn có cảm giác bố cục không cân bằng.

 
Với tác phẩm trong triển lãm 10 năm điêu khắc toàn quốc lần thứ tư 1993-2003: có nội dung hàm chứa một mặt cuộc sống xã hội. Các hình khối giúp ta liên tưởng đầu tiên tới một hoạt động trong lĩnh vực tình yêu. Hình thức thể hiện theo quy luật đăng đối tương đối. Với thủ pháp dùng khối biến hình theo phong cách dân gian, khiến ta liên tưởng tiếp tới một nền văn hóa dân gian đình làng đã một thời phát triển rất thịnh thời trước của cha ông ta. Với nhiều kinh nghiệm từng trải của mỗi người, chúng ta sẽ còn có  những liên tưởng và đối chiếu vô cùng phong phú với từng người xem, không ai giống ai. Nhưng họ chắc chắn phải công nhận và thống nhất với nhau một điều đây là những tác phẩm đang phản ánh hoạt động của xã hội con người, chứ không phải là của xã hội loài vật nào khác.
 
 

Với quần thể tượng đài gồm Three bộ đội đứng quay lưng vào nhau, nâng một em bé Thái, trên cùng là lá cờ  quyết thắng biểu trưng cho tinh thần đoàn kết, yêu chuộng hòa bình và quyết tâm giữ gìn mảnh đất thiêng liêng của Tổ Quốc. Tượng có chiều cao 16,6m, chất liệu bằng đồng và bê tông cốt thép, trọng lượng 220 tấn. Bệ tượng cao 3,6 m kết cấu bê tông cốt thép, bên ngoài ốp đá mỹ nghệ, gồm Three tầng hình chữ nhật xếp chéo lên nhau. Tượng đài được khánh thành nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và là một trong những tượng đài bằng đồng lớn nhất Việt Nam.

Đây cũng là một bố cục tuân theo quy luật cân bằng động. Ta không thể thấy chúng đối xứng nhau qua bất cứ một điểm hoặc trục, diện nào. Khối mảng được phát triển cả ba chiều. Nhưng một điều thấy rõ, trọng tâm của tượng không hề rơi ra ngoài khối tượng. Bởi trong cụm tượng đã có một quy luật riêng lấy trọng tâm. Các khối bên phải, khi lá cờ vươn lên cao và hướng sang phía phải, sẽ có xu hướng làm mất cân bằng tượng. Làm tượng sẽ đổ về phải. Nhưng tác giả đã khôn khéo kéo thêm chi tiết là em bé ngồi trên tay người chiến sĩ, khiến trọng tâm cụm tượng được kéo trở lại vào bên trong.

Nhưng quan trọng là sự phát triển của hai chi tiết em bé và lá cờ không đối xứng với nhau. Mà một bên là khối lá cờ đi lên, một bên là khối em bé được phát triển theo chiều ngang sang bên trái. Kích thước của cả hai khối vừa đủ để tạo cân bằng về tâm lý và hình dạng thị giác của bố cục. Trên thực tế, từ bước thực hiện ý tưởng tới các bước xây dựng hoàn chỉnh cuối cùng, trải rất nhiều công đoạn, tốn kém rất nhiều công và sức của một đội ngũ chuyên nghiệp. Nếu thực hiện trên máy tính từ những bước đầu tiên tới bước hoàn chỉnh, sẽ tiết kiệm rất nhiều thời gian và tiền bạc công sức. Vì các phần mềm 3D trên máy tính, sẽ hỗ trợ giả lập và mô phỏng tất cả mọi thứ như ngoài hiện trường. Ta có thể đánh giá và phê duyệt chúng ngay trên máy tính với hiệu quả ngang bằng ngoài hiện trường với kích thước bằng thật. Phần mềm 3D (Zbrush) cho ta mô phỏng mọi chất liệu, môi trường, khung cảnh giống hệt ngoài thực tiễn. Có nhiều công cụ hỗ trợ đưa cụm tượng vào trong khung cảnh thật ngay trên máy tính với nhiều chiều khác nhau. Tạo phối cảnh như góc độ nhìn bên ngoài hiện thực.

Tóm lại, với một bố cục sáng tác, trong khi sắp xếp các khối mảng, ta có thể phân thành hai quy luật bố cục khác nhau. Quy luật cân bằng tĩnh và cân bằng động. Cân bằng tĩnh, bao gồm các loại đối xứng tuyệt đối, bao gồm loại đối xứng qua tâm, qua đường thẳng (trục), qua diện (hoặc mặt phẳng). Đối xứng tương đối có sự khác biệt về chi tiết giữa hai bên nhưng không phá vỡ tổng thể đăng đối.

Cân bằng động, bao gồm đa dạng các kiểu sắp xếp hình dạng thị giác trong mỗi bố cục sáng tác. Chúng là tiền đề khởi thủy cho các giá trị tác phẩm mang dấu ấn cá nhân về biểu hiện hình thức, phong cách cho mỗi tác phẩm nghệ thuật. Từ các quy luật về cân bằng, chúng ta sẽ xây dựng một số hệ thống những nguyên tắc hay quy tắc bố cục để cân bằng về nội dung và hình thức tạo điều kiện cho các kinh nghiệm cảm xúc thẩm mỹ được phát sinh và sống động.

 

 

2.9. Khái quát về các thành phần ngôn ngữ cơ bản của nghệ thuật tạo hình trong không gian. Hình khối và không gian trên máy tính.

2.9.1. Khái quát về nội dung hàm chứa, biểu cảm nghệ thuật của ngôn ngữ khối trong điêu khắc nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung.

Như ta đã biết, bất cứ một sản phẩm chung nào do con người tạo ra đều hàm chứa hai giá trị chính là giá trị nội dung và và giá trị hình thức. Để hiểu rõ hơn ta sẽ lấy một vài ví dụ.

Trong lĩnh vực kiến trúc, người ta chia ra một số loại công trình theo giá trị tăng dần của mặt hình thức nghệ thuật, và đương nhiên giá trị kỹ thuật, công năng sử dụng cũng lần lượt giảm theo và biến thành một giá trị tinh thần khác.

 
 
 
 

Thứ nhất là công trình đường xá. Đây là một loại công trình trong kiến trúc mang nặng tính kỹ thuật, chủ yếu có giá trị về mặt công năng sử dụng. Đường xá phải có kỹ thuật cao, bền vớí mưa nắng, tải trọng nặng của xe cộ…Vì vậy hình thức của nó ít được coi trọng trong khi làm đường. Tức là giá trị công năng rất cao, còn giá trị về hình thức nghệ thuật hầu như chẳng có gì. (Nếu gắn chúng với không gian xung quanh thì khác, nhưng trong ví dụ này ta không xét tới chúng)

Thứ hai là công trình cầu cống, đập nước, thủy điện, giá trị kỹ thuật và công năng sử dụng vẫn là tính sống còn. Tuy nhiên yêu cầu về hình thức nghệ thuật cũng đã cao hơn đường xá.

Thứ ba là công trình cho các khu công nghiệp. Chúng cần kỹ thuật chuyên môn dây chuyền nhiều hơn. Tuy nhiên chúng cũng cần phải có thêm giá trị về hình thức nghệ thuật nhưng không đòi hỏi khắt khe. Nếu cần thì các ưu tiên về các giá trị kỹ thuật vẫn được coi trọng hơn giá trị nghệ thuật. Thứ tư là nhà ở, mà ta hay gọi là các công trình cấp 4. Nhà ở là một công trình khá đặc biệt trong kiến trúc, nó đòi hỏi kỹ thuật và hình thức nghệ thuật phải tương đương nhau. Bởi con người ta sống và gắn bó trong môi trường này suốt cả cuộc đời mình.

Con người thường có tâm lý đòi hỏi cả nhu cầu về vật chất và tinh thần là như nhau. Nhiều nơi kiến trúc nhà ở phản ánh văn hóa của xã hội nơi vùng miền đặc trưng đó. Hình 2.46 là một ngôi nhà được thiết kế tại khu vực châu Á, có khí hậu nóng và ẩm nhiệt đới, mưa nhiều.

Thứ năm là các công trình lớn hơn nhà ở. Đó là các công trình cần giá trị hình thức nghệ thuật nhiều hơn giá trị công năng một chút như bệnh viện, trường học…

Thứ sáu là các loại nhà cần có giá trị cao về văn hóa tinh thần và các giá trị hình thức nghệ thuật. Đó là các loại nhà hát lớn, đền đài, miếu mạo, chùa chiền… Vì chúng có tính chất thuần túy về hoạt động văn hóa tinh thần nên cần có hình thức đẹp và chất lượng nghệ thuật cao. Giá trị sử dụng của chúng đã biến thành những giá trị về văn hóa tinh thần. Người ta đến nhà hát lớn để có không gian thưởng thức nghệ thuật. Nên chúng ta thường thấy các cột chống đỡ được tận dụng và biến thành những phù điêu, tượng tròn trang trí mang tính nghệ thuật nhiều hơn là chống đỡ trần nhà. Thậm chí vị trí cột và đầu cột, hay tường trang trí có thể xuất hiện bất cứ đâu khi cần nhấn nhá không gian nghệ thuật, mà không vì các quy tắc kết cấu xây dựng. Hình 2.47 là một chi tiết trang trí nghệ thuật của một đầu cột, hình 2.48 là nhà hát kịch Opera Sydney, hình 2.49 là hình ảnh trang trí hoành tráng nội thất một nhà hát lớn. Bản thân nội và ngoại thất của chúng là những công trình nghệ thuật kiến trúc đích thực.

Đỉnh cao của các giá trị nghệ thuật chính là các tác phẩm nghệ thuật, không cần có quá nhiều giá trị kỹ thuật thông thường. Giá trị sử dụng thông thường hầu như không có. Mà gần như 100% của nó là giá trị về hình thức nghệ thuật với sự thể hiện của các loại hình ngôn ngữ nghệ thuật, được sáng tạo theo hệ thống các quy luật và nguyên tắc bố cục một cách khắt khe và chặt chẽ. Trong các tác phẩm nghệ thuật, giá trị sử dụng bình thường bị triệt tiêu, chỉ còn hoàn toàn các giá trị tinh thần bao gồm nội dung và hình thức.

Quan sát trong cuộc sống, ta thấy còn nhiều sản phẩm trong nhiều ngành nghề khác trong xã hội đều có quy luật sắp xếp này. Ví dụ: như sách vở, báo chí, truyện… được sản xuất bằng giấy. Nhìn một tờ giấy có đầy chữ viết, ta thấy chúng hàm chứa đông đặc một lượng thông tin nào đó. Nhưng chúng lại được sản xuất ra với nhiều loại hình thức khác nhau. Nếu là một bản nháp, ta không cần phải trình bày đẹp. Là một bài báo thông thường, chỉ cần chuyển tải một nội dung, một thông điệp, thì hình thức có thể khá hơn. Nhưng khi bắt đầu là một tập truyện ngắn hay truyện dài được để trên kệ sách, thì một đội ngũ chuyên thiết kế mẫu mã, minh họa, vẽ bìa được chú trọng, để cuốn sách ngoài nội dung còn có thêm giá trị hình thức trình bày nghệ thuật.

Vấn đề về nhu cầu ăn mặc của con người cũng tương tự. Quần áo là một sản phẩm có công dụng giữ ấm cho con người, nhưng ngoài công năng sử dụng khoác lên người đó, nó còn có nhiều giá trị về nét đẹp văn hóa. Không những vậy, bộ môn thiết kế thời trang được ra đời để phục vụ về nhu cầu văn hóa đó, và có nhiều loại thời trang để cung cấp các loại sản phẩm có giá trị nghệ thuật từ thấp đến cao…

Cứ theo cách lập luận vậy, ta sẽ suy ra được nhiều sản phẩm khác của con người cần tới sự hỗ trợ của nghệ thuật. Như chén bát, đồ gốm sứ, bàn ghế, tủ giường…Đã qua rồi cái thời chén bát của Bát tràng chỉ có các loại sản phẩm thô mộc… mà nay còn có cả nhiều sản phẩm chén đĩa kiểu có tính mỹ thuật để trưng bày trong phòng khách của một ngôi nhà.

Như vậy nhu cầu được thưởng thức cái đẹp trong xã hội loài người là một đặc tính chung, không cần phải có năng khiếu mới có. Ngay cả một đứa trẻ con cũng biết chọn cái áo mới để mặc. Một bác nông dân cũng có thể thưởng thức một bức tranh phong cảnh đẹp. Một nhà trí thức thành phố cũng có thể xem và hiểu được tranh của Picatso. Nhưng để sáng tạo ra các sản phẩm nghệ thuật đó lại là một vấn đề khác. Nó không đơn thuần chỉ cần có lòng ham muốn. Nó còn đòi hỏi cao hơn thế nữa. Tức là một người muốn sáng tác ngoài lòng ham muốn đam mê, cần phải có một sự học hỏi cần cù, có hiểu biết về kỹ thuật chuyên môn, có phương pháp sáng tác. Nhất là phải có năng khiếu thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật chuyên môn. Tức phải có phong cách, luôn luôn sáng tạo và liên tục sáng tạo. Và nhất là phải hiểu và nắm bắt được tường tận những ngôn ngữ cơ bản của chuyên môn nghệ thuật mà mình theo đuổi.

Sau đây chúng ta hãy tìm hiểu thêm những yếu tố không gian nào tạo nên ngôn ngữ cơ bản của tạo hình điêu khắc. Các tính chất và khả năng biểu cảm của chúng trong không gian máy tính.

Điêu khắc chính là sự sắp xếp khối trong không gian. Nó là sự chiếm chỗ, là thể tích của một chất liệu điêu khắc nào đó được định hình trong một không gian thực. Nhưng theo điêu khắc hiện đại, tất cả những gì bao hàm liên tưởng về tính chất khối cũng là điêu khắc. Ví dụ một cái nồi nấu cơm khi đậy nắp vung, chúng là một khối trụ hoàn chỉnh. Nhưng khi mở nắp vung ra, không còn khối nguyên vẹn nữa, nhưng nó vẫn còn một giá trị khối cũ, với một hình thức khái niệm mới. Lúc này phần phía trong của nồi vẫn còn một giá trị khối trụ nào đó có sự liên tưởng là cái nắp vung vẫn còn đang đậy, đó là khái niệm của khối âm. Vì vậy điêu khắc hiện đại ngày nay ngoài khối dương truyền thống, còn chấp nhận cả khối âm. Hoặc trong một số trường hợp, nó đồng nghĩa với trong ngoài. Một ngôi nhà nhìn từ bên ngoài, và từ bên trong. Một dương bản tượng và một âm bản của cái khuôn đúc. Một mặt phẳng cong hình cầu cho ta phần mặt cong bên trên và bên dưới… rất nhiều ví dụ ta có thể nhận biết các tính chất âm dương của khối tồn tại tune tune với nhau.

Tính chất triết lý của nó rất rõ nét trong hầu hết mọi lĩnh vực trong vũ trụ và cuộc sống con người. Tính chất âm dương cũng như tỷ lệ vàng, nó tồn tại hết sức khách quan bao trùm mọi lĩnh vực. Nó có tính chất đối nghịch nhau trong chừng mực nào đó. Trong giống loài, nó là đực cái. Trong cơ thể sống, nó là đồng hóa, dị hóa. Trong thiên nhiên nó là trời và đất, ngày và đêm, mặt trăng và mặt trời, nóng và lạnh, cao và thấp, âm khí và dương khí, sông hồ và núi đồi. Trong xã hội con người, nó là cha và mẹ, con trai và con gái, dương trần và âm trần, Sơn Tinh và Thủy Tinh, người âm và người dương…và rất nhiều khái niệm dựa vào tính chất âm dương trong lịch sử phát triển xã hội loài người. Rõ nhất là trong phong thủy (các bạn có thể tìm kiếm trên web với từ khóa – khái niệm âm dương trong phong thủy).

Nhưng tất cả đều công nhận một điều là tính chất âm dương có ý nghĩa đối nghịch nhau, xung khắc nhau, nhưng hoàn toàn thống nhất trong một tập hợp chỉnh thể nào đó. Hai mặt âm dương này hòa trộn, âm thầm chuyển hóa, xen kẽ nhau, mâu thuẫn nhau, kết hợp nhau với một mục đích duy nhất – làm chỉnh thể đó sống động, phát triển và tồn tại trong một không thời gian nào đó.

Điêu khắc cũng không ngoại lệ. Các khối âm dương đều có tính chất và ý nghĩa trái ngược nhau, nhưng bổ xung các khiếm khuyết của nhau, nêu rõ ý nghĩa giá trị của nhau, cùng tôn nhau lên. Và cuối cùng là làm cho tác phẩm đạt được tối đa ý nghĩa thông điệp và vẻ đẹp hình thức vốn phải có trong tác phẩm. Khối (phần dương) chiếm chỗ của không gian (âm), thì không gian cũng xâm nhập vào khối, làm cho khối nổi bật hơn. Không gian len lỏi vào trong từng phần khối bố cục, và tạo ra các mảng tối sáng, nhằm làm nền phông cho ý tưởng. Nhấn mạnh khối này thì phải lược bỏ cái kia, nhằm mục đích cho không gian bên ngoài len lỏi vào tận từng chi tiết của khối, và khối chủ đạo càng hiện rõ.

Có thể nói, khối âm dựa vào dương mà biến hóa, khối dương dựa vào khối âm để được tôn cao. Nhưng khi biểu hiện, tức là đi sâu phân biệt để tạo tác, thì chúng hoàn toàn có những tính chất khác nhau rõ ràng. Trong điêu khắc truyền thống, khi thể hiện khối dương, đương nhiên ta đã hàm ý công nhận mặc định một số khối âm đi kèm. Nên tác giả không lo lắng và để ý lắm tới chúng. Ví dụ khi điêu khắc một tượng tròn. Lúc đục đẽo, bỏ đi những phần thừa trên bố cục, tức là đã có không gian chiếm chỗ phần đục bỏ đó. Một khối tượng hoàn thành, đương nhiên là đã có phông nền của không gian làm rõ lên dáng dấp của tượng. Phông nền đó mang tính chất âm làm nhấn rõ sự tương phản của tượng chiếm chỗ chúng. Qua tương phản này, ta nhìn thấy bố cục tượng. Như vậy khi không có không gian, ta sẽ không còn thấy tượng, hay giá trị tượng không còn tồn tại.

Nhưng với nghệ thuật điêu khắc đương đại ngày nay, khi hiểu rõ giá trị của ngôn ngữ khối bao gồm âm dương. Các nhà điêu khắc không bỏ phí đi yếu tố này trong các tác phẩm đương đại của mình. Khối âm được tận dụng triệt để, nó là một thành phần chủ ý có mục đích cấu thành trong tác phẩm, chứ không còn vai trò tự nhiên mặc định nữa.

Nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị là một điển hình của một bậc cao nhân tự đốt đuốc mà đi trên con đường nghệ thuật. Qua quá trình sáng tác, bà đã mầy mò, tìm hiểu, tự soi sáng mình, và bà đã tìm ra cho mình một con đường đi riêng biệt. Nhiều tác phẩm của bà mang nặng tính triết lý âm dương của nền văn hóa phương Đông. Với bảy tín hiệu thị giác có ngôn ngữ khối do bà tự quy định và sắp xếp chúng theo nguyên tắc cân bằng tĩnh và cân bằng động (hình dưới). Những tác phẩm có cấu trúc bảy modul của bà là một dạng tác phẩm điêu khắc độc đáo, nhằm mô phỏng cuộc sống tinh thần và vật chất trong xã hội loài người. Hiệu ứng của bảy modul đã đẩy các tác phẩm điêu khắc trở thành những ngôn ngữ khối điêu khắc đặc biệt, tạo một đỉnh cao về sự cô đọng súc tích, điển hình và nhiều ý nghĩa nhất trong sáng tác của bà. Với bảy modul này, cuộc sống tinh thần của xã hội con người lần lượt được tái hiện. Tác phẩm loại này ngay từ đầu nghiên cứu đã đề cập, ta thấy chúng hàm chứa nhiều lớp giá trị. Vì bảy modul này là kinh nghiệm thực tại của riêng bà trải nghiệm, nên những lớp giá trị tiềm ẩn phải do chính bà giải mã. Trong tác phẩm của bà hàm chứa rất nhiều những yếu tố bí ẩn, khi xem chúng ta luôn có trong đầu những câu hỏi như tại sao, vì lẽ gì…

 
 


Cuối cùng chúng ta chỉ biết và thưởng thức được cái đẹp bên ngoài, vẻ đẹp về hình thức, bố cục, độc đáo, mới lạ. Các khối dương và âm chồng chất, hòa quyện với nhau tạo nên một bản trường ca về khối không bao giờ dứt… Công việc giải mã các nội dung tinh thần hàm chứa của các lớp tiềm ẩn là vai trò của các nhà nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam trong thời gian tới, nếu họ đánh giá đúng vai trò và chỗ đứng quan trọng của bà trong nền nghệ thuật điêu khắc của nước nhà. Bởi bà nổi tiếng trên thế giới, có đóng góp nhiều cho nền điêu khắc thế giới, tune trong nước, không phải ai cũng biết đến bà.

2.9.2. Hình khối và không gian, với sự sáng tạo trên máy tính.

Trong ngôn ngữ hội họa, do tính chất biểu hiện trên mặt phẳng 2 chiều, nên nó chính là các hình dạng thị giác được tạo bởi đường nét và diện mảng. Ngoài ra còn có yếu tố màu sắc hỗ trợ cho sự biểu cảm đặc trưng ngôn ngữ hội họa. Trong điêu khắc, ngôn ngữ chính là khối trong không gian, và sự biểu cảm của khối. Khối có hai dạng, khối dương và khối âm. Khối lại được cấu thành từ các yếu tố điểm, đường, mặt phẳng, diện. Sự biểu cảm của khối được hỗ trợ thêm của ánh sáng. Đây là đặc trưng của điêu khắc. Màu sắc không đóng vai trò quan trọng trong sự biểu cảm của khối. Có chăng thì chính là màu sắc của chất liệu mới góp phần quan trọng nào đó trong từng trường hợp cụ thể cho sự biểu cảm mang tính nghệ thuật.

Nhưng quan trọng nhất vẫn là ngôn ngữ và giá trị biểu hiện có tính tín hiệu thị giác của khối. Trong hội họa, ít ai vẽ người da đen bằng sắc màu trắng. Nhưng trong điêu khắc người ta vẫn có thể tạc tượng người da đen bằng các đá hoa cương màu trắng.

Vậy ta định nghĩa khối trong không gian điêu khắc khá dễ dàng. Nó chính là thể tích giới hạn bởi các mặt phẳng hay diện phẳng. Các mặt và diện ở đây bao gồm tất cả các mặt, diện phẳng hay cong. Đây là một khái niệm quan trọng. Trong hình học không gian Euclid, chúng ta đã quen và công nhận một loại khối cơ bản. Các khối được tạo bởi giới hạn các mặt phẳng chứ không phải mặt cong.


Chỉ khi hình học Lobachevsky ra đời, mọi khái niệm phi Euclid đã khai sinh thêm nhiều khái niệm mới lạ. Trong nghệ thuật hình như mọi biểu hiện cảm thụ khối có tính tương đồng với hình học không gian của Lobachevsky. Bởi một điều chắc chắn, nếu chỉ nhìn một diện phẳng, ta không thể thấy khối.

 Do mặt phẳng có tính chất không diễn tả tố chất nào của khối. Nó không là khối dương, cũng không phải là khối âm. Mà mang tính chất trung gian. Nhưng cũng mặt phẳng đó ta làm cho nó cong lên, lập tức ta thấy ngay một nội hàm ẩn chứa, vì đã có trên có dưới, có trong có ngoài, có lồi có lõm. Tức đã phát sinh một loạt tính chất biểu hiện khối kèm theo. Hình minh họa một mặt phẳng được làm cong đi phức tạp hơn, đương nhiên nó có tính đại diện và liên tưởng nhiều hơn. Đó là mặt cong hình yên ngựa. Như vậy chỉ với một mặt cong đơn giản, đã có chứa  nhiều nội dung biểu hiện trong đó.

Vậy khối được tạo thành từ những mặt cong đó sẽ có giá trị như thế nào, phải chăng chúng có giá trị về nội dung biểu hiện cao hơn. Khi các loại khối này kết hợp, sắp xếp với nhiều dạng khác nhau, nhưng lại tuân theo các quy luật bố cục sáng tác, thì sự phong phú về nội dung biểu hiện hình thức nghệ thuật của chúng thật hết sức đa dạng. Ngoài thực tế, khi sáng tác, có thể các công cụ hỗ trợ như dao, nạo không tạo điều kiện nhiều cho chúng ta thể hiện các loại mặt và khối phức tạp chứa nhiều nội hàm biểu hiện của ngôn ngữ điêu khắc. Nhưng trên máy tính với phần mềm Zbrush, sự sáng tạo là không giới hạn. Chỉ với một vài thao tác đơn giản, ta cũng đã có thể tạo ra những loại khối nguyên thủy đầy đủ nội dung biểu hiện làm cơ sở cho bất kỳ những những ý tưởng nghệ thuật nào. Các kiểu thể hiện ngôn ngữ khối biểu hiện như hình 2.53 có thể đánh đố với chúng ta ngoài thực tế, nhưng trong Zbrush, chúng được tạo ra khá dễ dàng. Từ khi tạo khối đơn giản tổng thể, tới đẩy sâu chi tiết và hoàn thiện chúng theo ý đồ tác phẩm.

Tất cả mọi giá trị của quy luật liên tưởng và đối chiếu của hình dạng thị giác với từng đường nét, chi tiết chúng ta có thể tham khảo thêm hai cuốn “Tiếng nói của hình và sắc” của tác giả Nguyễn Quân và “Cơ sở tạo hình kiến trúc” của tác giả Đặng Đức Quang.

Với nội dung cung cấp một số hệ thống liên tưởng từ hình dạng thị giác sang giá trị biểu hiện. Nhưng dù sao đây cũng chỉ là những hệ thống tham khảo, mang tính hệ thống kiến thức cá nhân của những kinh nghiệm các bậc nghệ sĩ nổi tiếng đi trước. Giá trị to lớn của chúng là sưu tầm chỉnh lý, hệ thống hóa các hệ thống tín hiệu biểu hiện của nhiều cá nhân nghệ sĩ. Hệ thống kinh nghiệm này đã được trải nghiệm và thu nhiều kết quả thành công trong lĩnh vực nghệ thuật, biến chúng thành một cơ sở lý thuyết chung cho những người muốn tìm hiểu và bước vào con đường sáng tác nghệ thuật. Qua đó ta có thể tự tin đánh giá được giá trị của các bậc tiền bối. Tránh xa các con đường đã được khai phá, vững bước trên con đường sáng tác riêng của mình.

Mỗi người nghệ sĩ sáng tác có thể dựa vào kiến thức, vốn sống, sự trải nghiệm của mình để xây dựng những hệ thống tín hiệu cho riêng mình như nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị đã từng làm. Picatso đã tạo tiền đề cho trường phái hội họa Lập thể xuất hiện, với hệ thống tín hiệu thị giác hết sức đặc biệt, độc đáo, chưa từng ai sử dụng trước đó. Từ đó đã tạo ra những giá trị nghệ thuật chuẩn mực cho con đường sáng tạo nghệ thuật của chính ông. Vì vậy mỗi nghệ sĩ dù tự thân hay đứng trên vai kiến thức của người khác, đều phải nỗ lực tìm kiếm con đường, tín hiệu riêng của mình trên con đường nghệ thuật. Nghệ thuật không chấp nhận sự giống nhau, sao chép, ngay cả khi tự lặp lại chính mình của ngày hôm qua. Sách tham khảo là cần thiết, nó giúp chúng ta có kiến thức cơ bản với thời gian ngắn nhất có thể. Nhưng nó cũng dễ làm ta mất phương hướng, ỷ lại, quên đi ý chí phấn đấu sáng tạo. Nếu chúng ta không có bản lĩnh, sẽ dễ quên đi sứ mạng của nghệ thuật là luôn luôn sáng tạo ra những giá trị mới. 

Xem phần 1 _  Xem phần 2

Tác giả: Phan Xuân Hòa. Nguồn: https://zbrushtiengviet.info/ly%20thuyet/blog.php?entry_id=1455202184

Posted on Leave a comment

Tâm lý sáng tác #2

Hits: 233

Xem lại phần 1 _ Xem lại phần 3

1.2. Nguyên tắc khoảng cách tâm lý.

1.2.1. Xác định một khoảng cách tâm lý trong sáng tác điêu khắc.

Đây là một nguyên tắc quan trọng trong sáng tác và thưởng ngoạn. Trong lúc sáng tác (hay thưởng ngoạn) hãy đẩy xa đối tượng (tác phẩm) một khoảng cách hợp lý. Đừng để khoảng cách đó quá gần, hiện thực sẽ nhấn chìm cảm xúc mỹ cảm. Nhưng cũng đừng để xa quá, sự viển vông không tưởng cũng sẽ nhấn chìm các kinh nghiệm mỹ cảm của mình đã từng tích lũy qua trải nghiệm, và không thể phát huy được trong sáng tạo.

Trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung và nghệ thuật điêu khắc nói riêng, nguyên tắc này vô cùng quan trọng. Phân biệt giữa người có chuyên môn sáng tác và các đối tượng hâm mộ chuyên môn. Bởi giữa hai đối tượng giống nhau ở chỗ đều say mê đến cuồng nhiệt chuyên môn nghệ thuật. Nhưng một bên thì sáng tác được, một bên thì không. Điển hình là trong mỹ thuật phân hóa thành ba giới trong một đội ngũ, và không thể thiếu nhau trong các hoạt động của lĩnh vực mỹ thuật (theo quan điểm riêng của người viết).

Giới thứ nhất gồm các nghệ sĩ tạo hình là các nhà điêu khắc, họa sĩ chuyên nghiệp hay nghiệp dư. Giới này bao gồm hai loại: Một là những bậc cao nhân, có năng khiếu bẩm sinh, tự thắp đuốc soi sáng con đường sáng tác nghệ thuật của mình. Hai là những bậc thường nhân, soi nhờ đuốc của người khác, học tập rèn luyện, cuối cùng tự đốt được ngọn đuốc của tự ngã, đi lên bằng chính đôi chân của mình. Giới thứ nhất này chính là những tác giả sáng tác những tác phẩm nghệ thuật để đời, tồn tại với thời gian.

Giới thứ hai là các nhà nghiên cứu phê bình nghệ thuật. Giới này chính là giới đã có công lao khai thác, tìm hiểu các tác phẩm của giới mỹ thuật, tìm ra được các lớp giá trị thứ tư tiềm ẩn trong các tác phẩm nghệ thuật. Như trên đã nói, lớp giá trị này ngay cả tác giả cũng không cảm nhận được trong tác phẩm của mình. Đó là tác dụng lâu dài của tác phẩm đối với sự phát triển của con đường nghệ thuật, sứ mạng của nó đã thành công với tương lai ra sao… Chính là nhờ sự khai quật của các nhà nghiên cứu phê bình nghệ thuật. Công lao của các nhà nghiên cứu phê bình nghệ thuật rất lớn. Nếu không có giới này, cũng sẽ không có lịch sử phát triển nghệ thuật, sẽ không có các trường phái lớn trên thế giới xuất hiện. Họ đã lưu trữ, phân tích, sắp xếp, phân loại nội dung, thủ pháp, các phương pháp sáng tác, sau đó tổng kết và đưa ra những nhận định mới với những kết luận chính xác.

Nguyễn Quân – Phan Cẩm Thượng, hai cái tên nổi bật nhất trong “làng” nghiên cứu phê bình mỹ thuật Việt Nam hiện tại. Cùng trong thời gian qua, hai ông lần lượt cho ra hai cuốn nghiên cứu: “Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20” (Nguyễn Quân) và “Văn minh vật chất người Việt” (Phan Cẩm Thượng) – thêm đóng góp lớn lao cho nền nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam. Riêng Nguyễn Quân đã cho ra mắt các cuốn “Nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại” (NXB Văn hóa 1982); “Ghi chú về nghệ thuật” (NXB Văn hóa 1990, NXB Trẻ 2008); “Tiếng nói của hình và sắc” (NXB Văn hóa 1986); “Con mắt nhìn cái đẹp” (NXB Mỹ thuật 2004), “Mỹ thuật của người Việt” (1989).

Các tác giả là các nhà họa sĩ, điêu khắc không thể làm được chuyện này, đơn giản là nhiều người trong số họ sáng tác tức thời theo cảm xúc, theo con tim mách bảo, theo vốn sống họ đã trải nghiệm, theo sở thích cá tính của họ muốn… Chứ không bao giờ một nhà điêu khắc lại tự ý thức khi đang sáng tác, mình phải theo trường phái này hay kia. Điều này sẽ hạn chế sự sáng tạo của họ xuống mức thấp nhất. Trong lúc vẽ, rõ ràng Pablo Ruiz Picasso và Georges Braque không thể ý thức được rằng hai ông đang sáng lập ra trường phái Lập thể trong tương lai gần của hội họa và điêu khắc trong những quãng thời gian sau đó.

Giới thứ ba chính là lực lượng đông đảo những người hâm mộ nghệ thuật. Họ tạo ra một môi trường nuôi dưỡng, động viên, nhắc nhở, giúp đỡ, tài trợ… cho hai giới trên làm việc với tính thần tốt nhất, hiệu quả nhất. Đại diện cho giới này là các nhà sưu tập tranh lớn nhỏ trên thế giới, là hệ thống các bảo tàng Mỹ thuật thuộc nhà nước hay tư nhân trên khắp thế giới.

Nhưng điêu khắc có những tính chất nghệ thuật đặc thù riêng so với các ngành nghệ thuật anh em. Nó có những đặc điểm rất chung của các ngành nghệ thuật khác, nhưng lại có những yếu tố rất riêng không thể trộn lẫn vào đâu được. Thường khi coi một bộ phim, hay đọc một cuốn sách hay, ta rất dễ liên tưởng, ta đang sống trong thực tế đó, và có thể khoảng cách tâm lý đã bị đặt quá gần. Vì vậy ta có thể khóc hay cười cùng với nhân vật hư cấu trong đó. Do vậy các loại hình này có nhược điểm khách quan là dễ kéo ta nhập vào những hoàn cảnh cụ thể của tác phẩm mà không dễ nhận ra được thông điệp hay chân lý của nghệ thuật gửi gắm trong đó. Hệ quả dễ dẫn đến người thưởng ngoạn không phân biệt được ranh giới cảm xúc của mình, đâu là nghệ thuật, đâu là cuộc sống. Họ có thể mang súng bắn vào diễn viên kịch nói đóng vai ác (đã từng xảy ra trong lĩnh vực kịch nói ở miền Nam, trước 1975). Hoặc có thể ném đá vào diễn viên điện ảnh ngoài đường phố nếu người này đóng vai xấu trong phim làm cho họ ghét. Và có cả những phiên tòa kết án những bức tranh nghệ thuật có giá trị cao nhất với lý do phá hoại thuần phong mỹ tục (bức họa Maja khỏa thân của họa sĩ Francisco Goya…). Tác phẩm văn học “Bức họa Maja khỏa thân” của nhà văn Mỹ – Samuel Edwards, khắc họa sinh động về sự kiện có thật này.

Đó là đối với các loại hình nghệ thuật động. Các loại hình tĩnh ít dẫn đến sự nhầm lẫn trên hơn. Khi coi một tác phẩm hội họa về chủ đề nude. Ít ai lại tưởng tượng là bức tranh đó là người thật để mà ôm ấp, vuốt ve…vì bức tranh là hai chiều, hiện thực là ba chiều. Người ta coi và thưởng thức bức tranh với những ý tưởng thuần về phân tích và thưởng thức thông điệp nghệ thuật mà tác giả gửi gấm. Âm nhạc và thơ ca cũng là những loại hình nghệ thuật động ít bị hiện thực hóa hơn kịch nói và phim ảnh. Đó là nói chung, khi nghiên cứu sâu sẽ còn gặp nhiều điều phức tạp hơn.

Điêu khắc có đầy đủ các tính chất trên của các loại hình nghệ thuật. Người ta có thể thấy một bức tượng cô gái nude với sự nhẵn bóng của phần ngực. Đã có sự liên tưởng với người thật, độc giả đã thử cảm giác bằng cách ôm ấp, vuốt ve, xoa bóp… Đó là những người hâm mộ đã đặt khoảng cách quá gần, khiến hiện thực đè bẹp đi sự thưởng thức trong sáng. Lý do là ai cũng muốn sờ vào phần đó để thỏa mãn thú vui coi nó như là thật, mà quên đi hình tượng nghệ thuật, thông điệp tác phẩm mà tác giả ký thác trong đó. Những con rùa với phần đầu nhẵn thín trong Văn Miếu là nạn nhân của sự không thấu hiểu nguyên tắc này (loại trừ yếu tố tâm linh).

Ngược lại, cũng có những bức tượng bị bóp méo đến mức không còn hiểu nội dung là gì, thì khi coi người ta đứng từ xa và xem như một thông điệp của người từ hành tinh khác gửi xuống do không hiểu rõ thông điệp và ý tưởng của tác giả đưa vào bức tượng, vì vậy đẩy họ đến chỗ xa lánh bức tượng, với lý do kinh nghiệm thực tế, vốn sống không thể giải mã được bất cứ nội dung nào trên tác phẩm.


Chính vì đặc điểm dễ bị đánh đồng với hiện thực như vậy (vì bản thân nó đã mang yếu tố ba chiều), lại cũng dễ đẩy họ xa lánh tác phẩm, nên điêu khắc dễ làm lệch lạc sự thưởng thức nghệ thuật của người xem và hiểu sai thông điệp của tác giả. Một tác phẩm điêu khắc muốn thành công cần những tiêu chí gì. Nếu tác giả muốn tác phẩm là cho riêng bản thân, không muốn công bố hay triển lãm thì không nói. Nhưng nếu muốn công bố và được sự công nhận của xã hội, họ phải đạt được tiêu chí làm sao đừng cố đẩy người thưởng ngoạn liên tưởng đó là hiện thực cuộc sống (khiến khán giả tưởng là minh họa một sự kiện nào đó trong cuộc sống), và thông điệp nghệ thuật tác giả gửi trong đó sẽ không được người xem nhận ra, hoặc không được tạo điều kiện cho quần chúng nhìn tác phẩm với khoảng cách tâm lý thoát khỏi hiện thực quá xa và coi đó là một thứ dị dạng bí hiểm, không liên tưởng được với bất kỳ thứ gì trong cuộc sống. Họ sẽ cảm thấy xa lạ và né tránh tác phẩm… Với trường hợp sau, họ dễ đánh đồng đó là một tác phẩm của người ngoài hành tinh với nền văn minh xa lạ. Và thông điệp nghệ thuật gửi đi của tác giả cũng sẽ lại thất bại. Đến đây chắc ta sẽ thấy các pho tượng khi có nội dung hàm chứa cuộc sống con người, thì hình thức thường hay bị bóp méo đi về tỷ lệ. Tượng các cô gái ngồi hay bị kéo dài phần lưng, sự cách điệu của tượng cũng góp phần đáng kể giảm đi lỗi của nguyên nhân thứ nhất. Còn lỗi thứ hai cũng rất hay gặp phải với điêu khắc gia tự cho mình vượt lên mọi khuôn khổ trong cuộc sống, nguyên tắc nghệ thuật để đi tìm những ý tưởng mới lạ cho riêng mình. Sự thành công hay thất bại của họ sẽ có một hội đồng nghệ thuật tương lai phán xét. Nếu thành công họ sẽ được vinh danh. Còn thất bại cũng không sao, vì con đường nghệ thuật không trải đệm cho bất cứ ai. Trong lịch sử nghệ thuật tạo hình có vô vàn các tấm gương thành công và thất bại của các bậc tiền bối. Nghệ thuật điêu khắc hết sức khó sáng tác và gai góc là thế. Không cẩn thận tác phẩm nghệ thuật sẽ đưa người ta vào hai thái cực, và cả hai thái cực này sẽ dẫn đến sự thưởng thức tiêu cực cho người xem làm hạ đi giá trị nghệ thuật đích thực của tác phẩm.

Ngay cả trong nghiên cứu hay sáng tác cũng vậy. Ta lấy một ví dụ điển hình cho dễ hình dung như khi sinh viên làm một bài nghiên cứu mẫu nude. Lúc này, nếu sinh viên chưa có kinh nghiệm sẽ có hai tình huống xảy ra:

Thứ nhất là nhìn mẫu nude với một con mắt trần tục, sẽ thấy nhục dục bị kích thích. Hoặc e lệ, xấu hổ, không dám tiếp xúc và nghiên cứu đối tượng. Các liên tưởng dẫn tới hiện thực hóa này sẽ làm tâm lý được nẩy nở theo chiều hướng xấu (như dẫn đến muốn quan hệ thỏa mãn xác thịt tầm thường với người mẫu, hoặc tâm thần bất định do xấu hổ…), đều khiến các hoạt động sáng tác nghệ thuật thất bại. Vì loại hình của chúng ta là điêu khắc tạo hình, tức chỉ chú trọng các đường nét, khối hình, mảng miếng dựa trên cơ sở của người mẫu để chắt lọc theo các tiêu chí của cái đẹp về hình thể thuần túy chuyên môn.

Tình huống thứ hai, là ngược lại, nếu ta coi mẫu thật đó chỉ là một tượng thạch cao, một thứ đối tượng vô tri vô giác, thì ta đã tự đẩy xa khoảng cách tâm lý của ta quá xa đến nỗi ta không còn sự rung động của cái đẹp, của hơi thở cuộc sống, cái thức ăn nuôi dưỡng nguồn cảm hứng sáng tạo, cái mà bất cứ tác phẩm nào thiếu, đều dẫn đến hậu quả bài vở khô không khốc, vô hồn.

Và tự tay ta đã bóp chết cảm hứng sáng tạo… Người biết sáng tác phải biết đẩy khoảng cách tâm lý ở mức vừa phải, không xa quá và không gần quá với đối tượng muốn nghiên cứu. Sinh viên mỗi khi làm bài sáng tác hay nghiên cứu, khi thầy hướng dẫn nhận xét là bài khô khan và vô hồn thì đó là một tín hiệu xấu cảnh báo cho phương pháp sáng tác của họ.

Nghệ thuật nhiếp ảnh cũng có những khó khăn tương tự. Giữa cái đồi trụy (do xã hội ngộ nhận) và cái nghệ thuật chỉ cách nhau mỏng manh như sợi tóc.

1.2.2. Tích cực và tiêu cực của nguyên tắc khoảng cách tâm lý.

Nguyên tắc này có tích cực đối với các nghệ sĩ tạo hình. Ta có thể lấy một vài ví dụ, chỉ cần ứng dụng một chút nguyên tắc này, một người bình thường nhưng có một chút tố chất sáng tác cũng có thể thành công (Tất nhiên trong giới hạn nào đó).

Ở đời có những nhà văn, suốt đời chỉ viết được một cuốn nhưng họ rất nổi tiếng. Vì đó chính là những cuốn tự truyện do họ sống và viết lại cuộc sống của họ. Chỉ khi họ biết đặt một khoảng cách với chính cuộc đời của họ. Cuộc đời họ sẽ như một đối tượng khách quan (tức là đã có khoảng cách) để họ nghiên cứu, ghi chép, phóng tác… Đó là Nikolai Alekseyevich Ostrovsky, tác giả của cuốn “Thép đã tôi thế đấy” đã một thời là cuốn sách gối đầu giường của một thế hệ thanh niên miền Bắc vào thời gian trước 1975. Tác phẩm này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Còn cuốn thứ hai “Papillon – người tù khổ sai” của tác giả Henri Charrière. Ông đọc một câu chuyện về cuộc sống của những người tù, và chợt nghĩ nếu viết lại cuộc đời tù ngục của chính bản thân mình, thì chắc chắn là ly kỳ, hấp dẫn hơn nhiều. Ông viết và đã thành công. Bộ phim cùng tên đã được hai nước Mỹ và Pháp sản xuất. Bài hát Papillon rất nổi tiếng trong phim vào những thập kỷ 70.

Cả hai con người trên đều rất nổi tiếng của thời đại họ đang sống. Và điều đặc biệt là cả hai chỉ viết được một cuốn hồi ký duy nhất trong cuộc đời sáng tác ngắn ngủi của mình. Có rất nhiều người có nhiều vốn sống như hai người trên, cuộc sống kinh nghiệm có thừa, vốn sống bao la, nhưng không thể nào kể lại và chuyển thể thành tác phẩm được (ví dụ đời sống của các chính trị gia). Chính là vì họ không hiểu và áp dụng được nguyên tắc này. Nhiều người đã thử viết, và họ đều thất bại, họ đã bị chi phối của thực tại quá nhiều, họ không thể tách nổi vốn sống của mình thành một đối tượng hiện thực khách quan để nghiên cứu sáng tác.

Một số người do kinh nghiệm thực dụng đã tồn tại một quy ước hết sức chặt chẽ không thể phá bỏ được trong ý thức. Đã bình thường hóa mọi việc, đồng nghĩa với sự thui chột của sự sáng tạo. Vì vậy kinh nghiệm cuộc sống càng ngày càng dày đặc, thì nhìn ra cái đẹp trong đó cũng bị thu hẹp. Đối với một người nông dân, suốt ngày lao động khổ cực với hình ảnh con trâu đi trước cái cày theo sau, thì hình ảnh đó trở thành nỗi nhọc nhằn khổ sở do kinh nghiệm lao động đó đem lại. Người nông dân không còn thấy cái hình tượng đẹp đẽ thi vị của nó như những du khách nước ngoài lần đầu chứng kiến hình ảnh lao động này. Du khách nước ngoài thấy cảnh đẹp, do họ chưa hề trải qua lao động để có kinh nghiệm khổ cực của sự lao động vất vả này. Con trâu và cái cày là một hình tượng được nhiều tác giả nghệ thuật khai thác ở nhiều khía cạnh và rất thành công. Cả trong thơ ca, văn chương, hội họa và điêu khắc, hình ảnh con trâu và cái cày luôn thân thương, đẹp đẽ, biểu hiện cho tình yêu quê hương và đất nước.

Chúng ta cũng không còn xa lạ gì với những bức tranh tĩnh vật nổi tiếng của các tác giả nổi tiếng vẽ những đồ vật tầm thường nhất. Những khoảnh vườn sân nắng, mà bất cứ ai cũng có thể bỏ qua khi đi ngang qua chúng. Nhưng qua lăng kính tác giả, đã trở thành những tác phẩm kinh điển. Không một người bình thường nào nhận biết được những cái đẹp tiềm ẩn nơi đây. Chỉ chính là họ, những họa sĩ tài ba đã nhận ra và không thể bỏ qua chúng trong tác phẩm của mình. Và họ vận dụng được nguyên tắc này, tách chúng khỏi cuộc sống hàng ngày của chính mình, chúng sẽ trở thành một đối tượng khách quan và có cơ hội trở thành những tác phẩm nghệ thuật bất hủ. Trong cuộc đời sự nghiệp sáng tác và nghiên cứu nghệ thuật của mình, Leonardo da Vinci cũng chỉ có rất ít những tác phẩm nghệ thuật, hầu như mỗi lĩnh vực ông chỉ có một vài tác phẩm. Nhưng chúng vô cùng nổi tiếng và chứa đựng nhiều giá trị to lớn.

Ngoài các yếu tố tích cực trên, ta cũng cần phải tránh các tác động tiêu cực của chúng nếu sử dụng chúng thái quá. Trong thực tế, ở các lĩnh vực khác, chúng ta không thể phủ nhận nhiều trường hợp đã vận dụng thái quá nguyên tắc này. Như nhiếp ảnh gia người Mỹ, có tên Miles Morgan, 42 tuổi, đã vô cùng dũng cảm tới gần những núi lửa đang hoạt động để ghi lại những khoảnh khắc hiếm có khi núi lửa hoạt động. Phần lớn chúng ta sẽ chạy khi thấy núi lửa phun trào, nhưng những người như họ thường xuyên tới gần những núi lửa đang hoạt động để chụp những bức ảnh sống động. Và có trường hợp cả hai vợ chồng nhiếp ảnh khi đang tác nghiệp đã bị núi lửa phun trào cướp đi sinh mạng của họ. Chính vì họ đã để khoảng cách tâm lý quá xa đến nỗi trước mặt họ chỉ còn cái đẹp, mọi kinh nghiệm nguy hiểm của núi lửa mà họ đã nghiên cứu, từng trải đều không còn tồn tại trong ý thức họ lúc đó nữa. Và tai nạn có thể tránh được đã xảy ra. Tương tự cho các nhà nhiếp ảnh chuyên chụp các hiện tượng thiên nhiên nguy hiểm như vòi rồng, sấm chớp, bão tố, sóng thần… Những tác phẩm nghệ thuật sáng tác về Thiên đàng hay địa ngục, hoặc có chủ đề viễn tưởng… thường hay dễ bị sa vào lối tiêu cực này. Do kinh nghiệm con người thực tế chưa bao giờ trải nghiệm qua các cảnh giới này. Vì vậy những tác phẩm thành công trong lĩnh vực này, hầu hết đều có dáng dấp kinh nghiệm của đời sống con người hiện thực áp đặt và mô phỏng ở một mức độ nào đó vào trong tác phẩm của họ.

Một trong những sở trường của những người trong giới sáng tác nghệ thuật là họ đã biết nhìn sự vật đối tượng với một khoảng cách vừa phải, chính xác. Nghĩa là nhìn một người mẫu nude, họ sẽ nghĩ ngay đến một dáng dấp, một bố cục tạo hình đẹp, chứ không phải đó là một người nhân tình với đầy đủ tính dục trong cuộc sống. Nhìn một cây mai, là họ nghĩ ngay đến những hình thế đẹp về hình thức của nó, chứ không nghĩ là cây này sẽ bán giá được bao nhiêu… thậm chí ngay cả những giấc mơ có sự vật và cảnh đẹp trong tiềm thức, cũng khiến họ nảy sinh, thai nghén cho những ý tưởng phác thảo cho một một tác phẩm tương lai.

Nhiếp ảnh gia tự do tên Wa Lisa (Canada) chớp được khoảnh khắc tia sét xé toạc đám mây trong bão trên bầu trời bang Nebraska, Mỹ hôm 21/8/2014

Nếu so sánh khoảng cách giữa một tác phẩm hội họa và điêu khắc, thì điêu khắc rất dễ mắc phải nhược điểm gần thực dụng hơn (do đặc tính ba chiều của nó). Vì vậy đòi hỏi sự cách điệu dữ dội hơn các tác phẩm Hội họa. Nhằm kéo dài khoảng cách tâm lý ra xa hơn, phù hợp với đặc tính khách quan của mình. Nhờ vậy các kinh nghiệm mỹ cảm khi sáng tác và thưởng ngoạn điêu khắc sẽ được phát huy. Thông điệp của tác giả, cùng sứ mạng khách quan được chuyển tới cuộc sống xã hội.

Và đây là một ví dụ điển hình khi những chuyên gia trái ngành (chỉ là chuyên gia trong một số lĩnh vực nào đó) phân tích tranh nghệ thuật dưới góc độ khác:

“…Thật bất ngờ khi các chuyên gia kết luận nàng Mô-na Li-da vừa mới sinh con vào thời điểm đứng làm người mẫu cho Lê-ô-na đơ Vanh-xi vẽ tuyệt tác này. Với công nghệ hiện đại (như máy quét 3 chiều) cho phép nhìn rõ hơn từng chi tiết của bức tranh, thường bị che khuất dưới lớp sơn dầu, các chuyên gia phát hiện bên ngoài chiếc váy nàng Mô-na Li-da đang mặc phủ một lớp canvas mỏng tang. Đây là loại váy dành cho phụ nữ I-ta-li-a ở đầu thế kỷ 16, mặc khi đang mang thai hoặc vừa mới sinh con. Các chuyên gia kết luận bức tranh của Lê-ô-na đờ Vanh-xi được vẽ để kỷ niệm lần sinh con trai thứ hai của nàng Mô-na Li-da, và nhờ đó họ có thể xác định chính xác hơn thời điểm vẽ tranh, đó là khoảng năm 1503. Người phụ nữ trẻ với nụ cười bí ẩn này được xác định là Li-xa Ghê-ra-đi-ni (Lisa Gherardini), vợ của thương gia người Phlo-ren-ti-na (Florentine), ông Phran-che-xcô đơ Giô-công (Francesco de Giocondo). Lần đầu tiên, người ta phát hiện tóc nàng Mô-na Li-da được cuộn thành búi ở phía sau chứ không phải có vẻ buông xõa như bức tranh hiện nay. Phát hiện này giải tỏa những tranh cãi trước đây, rằng chỉ có con gái hay phụ nữ “hư hỏng” mới xõa tóc ở thế kỷ 16, nhưng Mô-na Li-da là một phụ nữ đức hạnh. Trong bức tranh, có một vật giữ ghế của nàng Mô-na Li-da, và nàng không ngồi tựa vào sau ghế như mọi người vẫn nghĩ mà đứng thẳng. Các nhà nghiên cứu cũng không thấy vết bút lông vẽ và cho rằng có thể Lê-ô-na đờ Vanh-xin đã dùng ngón tay để thể hiện kiệt tác này”.

Vì vậy khi vận dụng nguyên tắc này, ta phải thấu đáo khai thác tính tích cực, hạn chế tối đa mặt tiêu cực, để có thể cho ra được những tác phẩm với nội dung và đầy đủ ý nghĩa sứ mạng cao cả của nó.

1.2.3. Nghệ thuật – mục đích thực dụng và kinh nghiệm trong cuộc sống.

Trong tất cả các tác phẩm nghệ thuật từ trước tới nay, trong bảy lĩnh vực nghệ thuật đều có nội dung xuất phát từ cuộc sống xã hội con người. Ngay cả các thể loại tôn giáo, viễn tưởng… cũng đều lấy chất liệu cuộc sống con người để mô phỏng ra các thế giới tưởng tượng khác. Giới nghệ sĩ khi sáng tác theo phương pháp kinh điển là đi thực tế theo chủ đề, tìm mọi hình tượng, động tác, sau đó chọn những động tác điển hình nhất cho chủ đề, có dáng thế đẹp nhất làm nguyên vật liệu chế tác thành tác phẩm. Lúc này, chất liệu là cái ai cũng biết, nhưng tác phẩm đã qua lăng kính của tác giả, qua cách nhìn riêng, phong cách riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân, và trở thành một cái hoàn toàn mới. Họ đã tổng hợp cái mới từ những nguyên liệu cũ kỹ. Đây mới chính là giá trị của tác phẩm và thấy được sự sáng tạo ra cái mới của mỗi tác giả. Nhưng cũng chính nhờ những nguyên vật liệu cũ đó mà độc giả mới có thể lãnh hội được tác phẩm. Mới có thể thấy được thông điệp, ý nghĩa, nội dung mà tác giả muốn gửi gấm. Vì vậy hai vấn đề này phải được nhìn nhận đúng đắn trong sáng tác mới có thể đạt được thành công nào đó về chất lượng nghệ thuật cũng như nội dung. Một khoảng cách gần như xa, xa tợ gần. Nhưng không được mơ hồ lẫn lộn.

Chu Quang Tiềm đã viết: “Trong kinh nghiệm mỹ cảm, một mặt chúng ta phải vượt lên trên hay ra ngoài cuộc sống thực tế, một mặt lại phải bám vào thực tế, một mặt phải coi như không có Ta. nhưng một mặt lại phải đem những kinh nghiệm của ta soi rọi vào tác phẩm, như thế không phải là một sự mâu thuẫn sao? thật ra vẫn có một sự mâu thuẫn, cho nên Builcuth gọi đó là “mâu thuẫn của khoảng cách” (The Antinomy of Distance), sự sáng tạo cũng như thưởng ngoạn có thành công hay không, là cứ xem cách bố trí sự mâu thuẫn về khoảng cách có thỏa đáng hay không. Như khoảng cách quá xa thì kết quả là không lãnh hội được, còn khoảng cách quá gần, thì sẽ bị động cơ thực dụng áp đảo đánh mất mỹ cảm. Cho nên lý tưởng tốt nhất của nghệ thuật là làm sao khoảng cách tợ hồ như gần nhưng là xa hay như xa mà lại gần.”

Trong lịch sử Mỹ thuật nước nhà, trong khoảng thời gian 1935-1936, xuất hiện sự tranh luận (bút chiến của Hải Triều và Hoài Thanh) giữa hai trường phái nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. Hay có thể nói nôm na là hai dòng văn học theo hai trường phái chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa tả thực.

Theo Chu Quang Tiềm: “Chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa tả thực đối với khoảng cách, một bên thì quá xa, một bên lại quá gần. Nghệ thuật nói chung là phải có một phần cận tình cận lý nhưng một phần khác lại không được cận tình cận lý. Phần cận tình cận lý là khoảng cách không đến nỗi quá xa có thể người mới dễ lãnh hội và thưởng ngoạn, còn phần không cận tình cận lý là khoảng cách hơi xa ra, có thể mới khiến người thưởng ngoạn không đi tư thế giới mỹ cảm đến thế giới thực dụng. Phàm là nghệ thuật đều phải có ít nhiều lý tưởng tính, đều là phản nghịch lại với chủ nghĩa tả thực. Nói như thế không có nghĩa là tất cả những sự kiện có tính cách hiện thực đều không thể dùng làm tài liệu tạo nên nghệ thuật. Những sự vật trong thế giới hiện thực dù có liên quan mật thiết đến thực dựng, khoảng cách quá gần, nhưng một khi đã qua bàn tay cắt xén chọn lọc của nhà nghệ thuật thì những tài liệu ấy lại trở nên có một khoảng cách thích đáng.”

Như vậy theo quan điểm của nguyên tắc này, ta sẽ có được một khoảng cách tâm lý vừa phải cho mỗi chủ đề, cho mỗi ngôn ngữ chất liệu, cho mỗi loại hình… sao cho phù hợp khiến cho tác phẩm của ta đừng gần quá đến nỗi độc giả bị cái thực dụng áp đảo khiến không thể nhận ra được hàm ý cái đẹp, cái mỹ cảm trong tác phẩm. Và đừng quá xa vời khiến độc giả không thể hiểu nổi nội dung là gì do không có nổi một chút khái niệm, kinh nghiệm gì về nội dung đó. Đọc tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du – một tác phẩm khá lâu đời trong thời điểm hiện nay. Khi đọc tập thơ trên, phần chú thích đã gấp đôi phần thơ. Lý do chính vì thời đó quá xa thời ta đang sống, những kinh nghiệm thực tế trong đó không thể nào dùng kinh nghiệm thời ta sống mà hiểu được. Để muốn hiểu và thưởng thức được cái hay, đẹp của thời ấy, bắt buộc phải có nhiều chú giải để độc giả hiểu thêm kinh nghiệm thực tế của thời đó. Còn những tác phẩm thời nay không hề có nhiều chú giải đến vậy.

Trong thời đại hiện nay, với sự góp sức của công nghệ thông tin, công việc sáng tác của các văn nghệ sĩ đã có ít nhiều bị ảnh hưởng, và đang có phần lưỡng lự trong phần kỹ thuật, kỹ năng sáng tác. Nên đi theo thủ pháp, kỹ năng cổ điển truyền thống, tức dùng những công cụ thủ công như cũ hay là theo những công cụ hỗ trợ hiện đại mà sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật đem lại. Hiện tại là một bước chuyển giao nên sẽ có nhiều đột phá lớn trong sáng tác nghệ thuật của thế giới, và sẽ không ít tác giả, độc giả có cách nhìn khác với những cách tân mới, theo xu hướng phát triển khách quan.

Trong lĩnh vực điêu khắc, khi máy in 3D ra đời, nó sẽ là một bước đột phá trong công cuộc đào tạo nghệ thuật điêu khắc. Ít nhất các công đoạn làm phác thảo sẽ có hai lựa chọn cho sinh viên, theo cách truyền thống và theo cách sử dụng công nghệ thông tin.

Với sự quan trọng của công việc tìm ý tưởng và thể hiện phác thảo nhỏ (hellònh 1.6). Chúng ta hoàn toàn có thể làm trên máy và in phác thảo thành một tượng Three chiều hoàn chỉnh thực qua máy in 3D. Sự sáng tạo là không giới hạn với các nghệ sĩ tạo hình. Và với sự hỗ trợ mới từ các công nghệ mới chắc chắn sẽ mở đường cho một trào lưu mới trong sáng tác nghệ thuật điêu khắc. Hiện nay trong các chuyên ngành xã hội đã có sự ứng dụng của máy in 3D hết sức ấn tượng (hellònh 1.7). Trong kiến trúc, người ta đã thiết kế nhà cửa trên máy tính (ngành nghệ thuật thứ nhất này đã áp dụng thiết kế trên máy tính, và gần đây là máy in 3D) và đã in (3D) hàng loạt các sản phẩm bằng thật để đem áp dụng vào cuộc sống.

Ngành y đã ứng dụng in 3D để sản xuất các bộ phận con người nhằm từng bước nghiên cứu thay thế chúng trực tiếp trên cơ thể. Ngành Mỹ thuật công nghiệp trên thế giới đã ứng dụng in 3D, sáng tác trực tiếp các tác phẩm, hoa văn trang trí… và in 3D bằng các chất liệu kim loại, gắn chúng ngay tại hiện trường (hellònh 1.8). Trên các công trình văn hóa và kiến trúc lớn… Cho đến bây giờ, điêu khắc có một thuận lợi hết sức là có thể kế thừa bề dày kinh nghiệm hơn 10 năm qua của các sự đột phá nghệ thuật nhờ công nghệ mới này.

Chính vì vậy, các siêu phẩm điện ảnh trên thế giới, với sự thành công rực rỡ về chất lượng nghệ thuật, bên cạnh đó là sự đóng góp to lớn của đội ngũ các nhà thiết kế mô hình bằng các phần mềm 3D, điển hình là Zbrussh trên máy tính.

Hiện nay, đội ngũ thiết kế 3D trên máy tính trên thế giới, phần lớn không phải là những nhà điêu khắc chuyên nghiệp. Họ không được học tập các kỹ năng, kỹ thuật sáng tác. Họ không hiểu về nghệ thuật bố cục, các nguyên tắc và quy luật sắp xếp khối, mảng, họ thiết kế và sáng tác theo những cảm nhận riêng và theo đơn đặt hàng. Vì vậy chắc chắn chất lượng nghệ thuật không cao. Đây cũng là một khách quan, bởi họ chỉ là những kỹ thuật viên, sử dụng thành thạo kỹ thuật máy tính, am hiểu phần mềm 3D, và mày mò tự thiết kế. Nhưng trong tương lại không xa, một đội ngũ các nhà họa sĩ điêu khắc trẻ. Có chuyên môn sáng tác, nắm trong tay một công cụ mạnh mẽ với nhiều tính năng, hỗ trợ mạnh cho công việc sáng tác. Họ thành thạo sử dụng các phần mềm 3D trong đó có Zbrussh, sẽ tạo nên một cơn địa chấn lớn trong nghệ thuật Điêu khắc.

Tóm lại, tâm lý sáng tác nói chung giữa các lĩnh vực nghệ thuật đều có một sợi chỉ đỏ xuyên xuốt. Nhưng trong Điêu khắc, sáng tác trên máy tính sẽ có một lợi thế về khoảng cách tâm lý để tác phẩm có thể đạt được nhiều yêu cầu chất lượng về nội dung hiện thực cũng như nghệ thuật.

Xem lại phần 1 _ Xem tiếp phần 3

Tác giả: Phan Xuân Hòa. Nguồn: https://zbrushtiengviet.info/ly%20thuyet/blog.php?entry_id=1454452267

Posted on Leave a comment

Tâm lý sáng tác #1

Hits: 195

Đọc phần 2 _ Đọc phần 3

1.1. Sứ mạng to lớn của mỹ thuật nói chung và điêu khắc nói riêng.

Sáng tác nghệ thuật là một công việc đặc biệt.

Công việc sáng tạo ra các tác phẩm nghệ thuật là một công việc đặc biệt. Vì vậy những tác phẩm nghệ thuật cũng là những sản phẩm đặc biệt.

Vậy những gì đã kết tinh trong sản phẩm nghệ thuật này, mà chúng lại có những tính chất đặc biệt như vậy. Thông thường, một sản phẩm trong xã hội khi được sản xuất ra, giá trị của nó được tính bằng giá trị của chính sức lao động của người sản xuất ra nó. Khi ra thị trường, giá trị của nó được cộng thêm với giá trị sử dụng mà tạo nên giá cả. Từ đây trở đi, tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng thị trường mà giá cả sẽ lên xuống xung quanh giá trị của nó. Nhưng với một sản phẩm nghệ thuật, ngoài những quy luật thông thường nó còn có nhiều giá trị đặc biệt mà người thường khó có thể nhận chân.

Nghệ thuật tạo hình có hai mảng sản phẩm có tính chất khác nhau.

Trong sản phẩm của nghệ thuật tạo hình lại chia làm hai mảng.

Mảng thứ nhất là nghệ thuật phục vụ cho cuộc sống chung của xã hội. Sản phẩm của chúng do chính những người lao động bình thường làm ra phục vụ cho nhu cầu thẩm mỹ của những người lao động bình thường trong xã hội. Sau những giờ làm việc căng thẳng, muốn tụ tập nhau uống trà đối ẩm bên những bộ bình trà độc đáo, với những hoa văn trang trí đẹp đẽ…

Tương tự như vậy, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ ra đời để phục vụ nhu cầu của con người, đó là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Đặc tính khác với các tác phẩm nghệ thuật là chúng được nhân bản rất nhiều, mất đi tính cá nhân, riêng lẻ, và đặc biệt là do nghệ nhân (những thợ làm nghề truyền thống lâu năm) và các thợ thủ công mỹ nghệ làm ra.

Chúng có sứ mạng riêng, đó là cuộc sống hóa nghệ thuật. Nghĩa là cố gắng đưa cuộc sống bình thường hiện tại tiệm cận dần với các giá trị Chân Thiện Mỹ. Trong chừng mực phát triển với một quy mô nào đó, nó tạo thành những dòng văn hóa dân gian trong xã hội, phục vụ cho nhu cầu thưởng thức văn hóa của đại đa số người dân trong xã hội.

Mảng thứ hai chính là các tác phẩm nghệ thuật. Chúng có những tính chất độc bản, có chất lượng nghệ thuật rất cao và mang đầy cá tính. Những tác phẩm này do các nhà sáng tác nghệ thuật chuyên nghiệp như các nhà điêu khắc, họa sĩ sáng tạo ra.

Trong thượng tầng kiến trúc của xã hội, nghệ thuật là một phần quan trọng của văn hóa, bao gồm nhiều lĩnh vực, mà tất cả chúng đều có sự thôi thúc năng lực và tính sáng tạo của con người.

Những lĩnh vực nghệ thuật chính yếu bao gồm:

– Nghệ thuật văn chương (thường gọi là văn chương – bao gồm thơ, tiểu thuyết, và truyện ngắn) và những hình thức khác tương tự.

– Nghệ thuật trình diễn (trong đó có âm nhạc, múa, ảo thuật, kịch nghệ và điện ảnh).

– Nghệ thuật thị giác (bao gồm kiến trúc, điêu khắc và hội họa).

Việc nghiên cứu tính chất của các loại hình nghệ thuật đã được tiến hành từ thời cổ đại. Nhà nghiên cứu nghệ thuật người Đức Max Dessoir (1867 – 1947) phát hiện ra là vào thời “hậu Aristote” người ta đã tách ra 6 loại hình nghệ thuật và căn cứ vào tính chất của chúng xếp thành hai nhóm. Nhóm nghệ thuật tĩnh gồm có kiến trúc, điêu khắc và hội họa. Nhóm nghệ thuật động (ngày nay gọi là Nghệ thuật trình diễn): gồm có âm nhạc, thơ và múa. Sau này Friedrich Hegel (1770 – 1831) trong “Những bài giảng về Mỹ học”, theo một hướng nghiên cứu khác, đã xếp 6 nghệ thuật trên thành hai nhóm:

Nhóm một có kích cỡ vật thể nhỏ dần, gồm: Kiến trúc, điêu khắc và hội họa.

Nhóm hai có khả năng biểu hiện (biểu cảm nghệ thuật) tăng dần, gồm: Âm nhạc, thơ và múa. Điện ảnh chính là ngành nghệ thuật thứ 7 ra đời vào đầu thế kỷ 18. Và phát triển mạnh cho tới tận ngày nay. Như vậy, điêu khắc cùng hội họa đã tồn tại rất lâu từ khi bắt đầu xuất hiện nền văn minh loài người. Trong bảng sắp xếp nào nó cũng đứng hàng thứ hai sau kiến trúc và trên hội họa. Như vậy tầm quan trọng của điêu khắc có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc sống văn minh nhân loại.

Cấu trúc các lớp giá trị của một tác phẩm nghệ thuật.

Một tác phẩm nghệ thuật thường có nhiều lớp tồn ẩn bên trong nội tại của nó. Lớp đầu tiên nhất là giá trị vật chất tạo nên nó, bao gồm nguyên vật liệu, công sức vật chất tạo ra tác phẩm. Giá trị thường không bao nhiêu, và cách thức tạo ra chúng thường không tốn nhiều sức lực. (ví dụ như vẽ một bức tranh, không thể tốn sức hơn một bác thợ rèn khi làm ra một con dao sắt). Nhưng giá trị tinh thần tiềm ẩn tính văn hóa của nó là vô cùng quan trọng và lớn lao.

Ta hãy lấy ví dụ một quả cam để so sánh cho dễ hiểu. Lớp thứ nhất ngoài cùng là một lớp vỏ màu vàng, bất cứ ai nhìn vào, không cần phải suy nghĩ nhiều, chỉ với một chút ít kinh nghiệm cuộc sống cũng có thể nhận thấy hết sức rõ ràng. Đó là nội dung, hình hài, cốt truyện, những gì mắt thấy tai nghe, sờ mó trực tiếp trên tác phẩm, là chất liệu của các tác phẩm hội họa và điêu khắc…

Lớp thứ hai của quả cam là cùi màu trắng, đã ẩn hiện một thông điệp nghệ thuật không phải ai cũng thấy, chỉ những độc giả có trình độ hiểu biết về thưởng thức nghệ thuật, những nhà chuyên môn lý luận mới có thể nhìn và luận giải ra được. Đây là một thông điệp, chủ đề, cảm xúc thẩm mỹ của chính tác giả muốn gửi gắm đến độc giả…

Lớp thứ ba là những múi cam mọng nước, bao bọc những hạt mầm bí ẩn dành cho tương lai. Những vui buồn, chua ngọt hay đắng cay, chỉ có bản thân tác giả mới có thể thấu hiểu. Không dễ gì người bình thường và các nhà chuyên môn có thể hiểu. Ví dụ câu đố bí ẩn trong vở bi kịch Hamlet của nhà soạn kịch vĩ đại người Anh William Shakespeare (1564-1616). Câu đố đó hiện nay chưa ai giải đáp được, nó như một bức màn sương mờ phủ lên toàn bộ tác phẩm. Câu đố này đã được nhà tâm lý học Vugotski đề cập đến trong cuốn Tâm lý học nghệ thuật của ông. Trong giới nghiên cứu nghệ thuật trong và ngoài nước, không ai không biết câu đố bí hiểm này. Nó tồn tại cho đến tận ngày nay và vẫn chưa hề có lời giải đáp. Nó khiến toàn bộ vở bi kịch diễn ra dưới một bức màn sương mù bí ẩn đầy văn hóa của câu đố (đó là vấn đề vì sao Hoàng tử Đan Mạch Hamlet trở về để thực hiện mục đích chính duy nhất là giết kẻ thù của mình. Nhưng đã có bao hoàn cảnh thuận lợi để Hamlet có thể thực hiện được ý đồ đó một cách dễ nhất. Nhưng Hamlet đã cố tình không tận dụng những cơ hội đó).

Lớp thứ tư của quả cam là những cái tép và hạt của nó. Đến lớp này thì có khi ngay cả tác giả của nó cũng không thể nhận biết được mà phải là những nhà nghiên cứu xã hội, văn hóa và nghệ thuật đời sau đánh giá, nhận xét, và phát hiện ra chúng mà thôi. Ví dụ rõ nhất là với họa sĩ Vincent van Gogh.

Theo wikipedia.org thì “Thời thanh niên, Van Gogh làm việc trong một công ty buôn bán tranh, sau đó là giáo viên và nhà truyền giáo tại một vùng mỏ nghèo. Ông thực sự trở thành họa sĩ từ năm 1880 khi đã 27 tuổi. Thoạt đầu, Van Gogh chỉ sử dụng các gam màu tối, chỉ đến khi được tiếp xúc với trường phái ấn tượng (Impressionism) và tân ấn tượng (Neo-Impressionism) ở Paris, ông mới bắt đầu thay đổi phong cách vẽ của mình. Trong thời gian ở Arles miền Nam nước Pháp, Van Gogh kết hợp các màu sắc tươi sáng của hai chủ nghĩa này với phong cách vẽ của mình để tạo nên các bức tranh có phong cách rất riêng. Chỉ trong 10 năm cuối đời, ông đã sáng tác hơn 2000 tác phẩm, trong đó có khoảng 900 bức họa hoàn chỉnh và 1100 bức vẽ hoặc phác thảo. Phần lớn các tác phẩm nổi tiếng nhất của Van Gogh được sáng tác vào hai năm cuối đời, thời gian ông lâm vào khủng hoảng tinh thần tới mức tự cắt tai bên trái của chính mình. Sau đó Van Gogh liên tục phải chịu đựng các cơn suy nhược thần kinh và cuối cùng ông đã tự kết liễu đời mình.”

Như vậy sau khi ông mất,  thì “Trường phái Dã thú (Fauvism) như Henri Matisse và các họa sĩ thuộc trường phái Biểu hiện Đức thuộc nhóm Die Brücke. Chủ nghĩa Biểu hiện trừu tượng trong nghệ thuật thập niên 1950 cũng bắt nguồn từ việc phát triển các ý tưởng sáng tác của Van Gogh. Năm 2004, trong Danh sách những người Hà Lan vĩ đại nhất trong lịch sử (De Grootste Nederlander) do đài KRO tổ chức, Vincent Van Gogh được xếp thứ 10 và là nghệ sĩ có thứ hạng cao thứ 2 trong danh sách, sau họa sĩ Rembrandt xếp thứ 9”.

Rõ ràng là ngay khi lúc còn sống, Van Gogh không thể nghĩ những tác phẩm nghệ thuật của mình đã mở đầu cho nhiều trường phái nghệ thuật như thế. Cái lớp giá trị thứ tư bí ẩn đã tác động một cách nhiều mặt và nhiều dạng phong phú đến sự nhận chân, kế thừa và thúc đẩy sự sáng tạo nghệ thuật cho các thế hệ đi sau. Còn rất nhiều những tấm gương khác nữa giống như vậy trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật.

Sứ mạng đặc biệt lưu giữ các nền văn hóa theo thời gian của nghệ thuật tạo hình.

Xã hội đương thời đánh giá một nền văn hóa của quá khứ dựa vào những yếu tố của nghệ thuật tạo hình. Sách vở văn chương không thể tồn tại theo thời gian, do hạn chế kiến thức được viết lên các thẻ tre không thể tồn tại lâu dài với thời gian. Truyền thuyết dân gian qua nhiều đời cũng bị tam sao thất bản. Chỉ còn cách duy nhất là dựa vào điêu khắc và hội họa. Bởi chất liệu tạo ra chúng khá bền vững theo thời gian. Các chất liệu như đá, đồng nguyên chất, các bức vẽ trong cling động, đất nung như gốm sứ… đều còn rất nguyên vẹn như khi chúng mới bắt đầu được tạo ra. Rất nhiều nền văn hóa cổ xưa đã được tìm hiểu, phục dựng qua các tác phẩm điêu khắc, bức vẽ của cling động, cổ vật điêu khắc. Cả một ngành khảo cổ học đã ra đời rất lâu trên thực tế này…Một ví dụ chứng minh rõ nhất là nền văn hóa Hy Lạp rực rỡ với các bức tượng nổi tiếng của nó. Rồi văn hóa Ai Cập với những kim tự tháp.v.v…

Chính vì vậy, các nhà họa sĩ và điêu khắc phải nhận thức được sứ mạng vô cùng to lớn đó. Vì đây chính là sứ mạng của nghệ thuật nói chung và nghệ thuật tạo hellònh nói riêng. Đây là một giá trị văn hóa quan trọng, nằm sâu trong lớp giá trị thẩm mỹ thông thường. Mỗi tác giả phải ý thức rõ từ bản thân của mình. Đây có lẽ là một sự đòi hỏi mang tính tự giác chân chính cao nhất của mỗi con người làm nghệ thuật. Sứ mạng này vô cùng to lớn, và không phải bất cứ nghệ sĩ sáng tác nào cũng có thể đáp ứng được. Họ vừa phải vẽ theo các kinh nghiệm cảm xúc của bản thân, lại phải tự nhận thức, cá thể sáng tác của mình là một trong những yếu tố cấu thành nên một giá trị văn hóa của nền nghệ thuật của hiện tại, một đất nước, một khu vực, thậm chí cho cả một nền văn hóa tương lai mai sau.

Muốn làm được những điều này, trong họ phải tồn tại nhiều yếu tố cấu thành, cả khách quan và chủ quan. Đầu tiên, trong con người họ phải có một niềm đam mê khát vọng cháy bỏng vì nghệ thuật, không khó khăn nào có thể cản trở họ trên con đường sáng tác của mình (hay còn gọi là tố chất năng khiếu bẩm sinh). Họ là một con người giàu cảm xúc, và luôn luôn có một nguồn năng lượng bẩm sinh dồi dào nuôi dưỡng cảm xúc đó. Nếu chỉ dừng lại ở đây thì vẫn không thể có khả năng trở thành một nhà nghệ sĩ. Bởi giàu cảm xúc chỉ là một điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Bởi vì cảm xúc trong con người có hai loại rõ ràng, một loại cảm xúc gọi là khoái cảm, lên xuống theo các dục vọng đời thường vì nhu cầu của bản năng và cuộc sống. Hỷ, nộ, ái, ố dẫn đến tham, sân, si của nhà Phật có thể được ví dụ trong trường hợp này. Sự hân hoan vui mừng vì cơm ngon, rượu ngọt…Sự buồn bã vì mất mát những thứ tầm thường trong cuộc sống… Lồng lộn giận hờn khi thua thiệt, si mê một thứ gì mà mình yêu thích bất chấp lẽ phải. Những thứ đó không thể làm nên tố chất của một nghệ sĩ chân chính. Cái cảm xúc mà người nghệ sĩ cần có ở đây là mỹ cảm, tức là sự rung động từ đáy lòng với cái đẹp trong cuộc sống. Nghe một bản nhạc hay, lòng ta tràn đầy cảm xúc, đọc một câu thơ hay, đối diện với một hoàn cảnh điển hình nào đó trong cuộc sống, thì luôn dậy lên một cảm thông sâu sắc… Bình thường thì cảm xúc này ai cũng có, nhưng với quá trình cuộc sống va chạm, mưu sinh, cảm xúc mỹ cảm đã lần lần bị bào mòn thui chột. Ngay cả với một số nghệ sĩ nổi tiếng, khi cảm xúc bị bào mòn, mạch sáng tác bị đứt quãng, họ phải dùng đến các cảm xúc nhân tạo để tiếp mạch dang dở. Nhà thơ Lý Bạch đã phải dùng đến rượu để tạo cảm xúc, đến nối hình ảnh bầu rượu túi thơ luôn đi cùng thi nhân. Nhà viết truyện kiếm hiệp nổi tiếng Kim Dung, tương truyền mỗi khi viết, ông phải dùng đến thuốc phiện. Và còn nhiều trường hợp khác nữa…

Cảm xúc thẩm mỹ liệu có thể tồn tại mãi với con người được không nếu không có sự nuôi dưỡng, chăm sóc, và phát triển nó. Thật không dễ gì để kéo dài cảm xúc này mãi mãi với con người nghệ sĩ. Người đời đã từng ví người nghệ sĩ như con tằm nhả tơ, rút từng đoạn ruột mình, và rồi đến lúc nào đó, hết tơ, con tằm sẽ chết.

Người nghệ sĩ khi có được cảm xúc thẩm mỹ rồi thì liệu có thể sáng tác được không? Vẫn chưa thể được. Vì nếu chỉ cần có cảm xúc thẩm mỹ thôi, thì hãy nhìn những đứa trẻ lên 5 tuổi. Chúng ta hẳn phải khâm phục chúng vì chỉ với một viên gạch non, chúng có thể vẽ cả ngày, bất kể nơi đâu, trên tường nhà, dưới sân gạch… mà không còn biết gì đến thế giới xung quanh với một niềm đam mê vô hạn. Ngay cả những nghệ sĩ sáng tác cũng rất thèm thuồng những cảm xúc trong vắt, không lợn cợn một chút đắng cay vui buồn của cuộc sống mà chúng chưa phải đối diện. Nhưng hãy nhìn những gì chúng vẽ, quả thật không hề có một giá trị nào về nghệ thuật cả, nội dung hời hợt. Bởi vì chúng thiếu kỹ năng vẽ, nặn (thông thường phải được học trong các trường chuyên nghiệp) và quan trọng nhất là thiếu vốn sống, mà chỉ khi lớn lên, cọ sát, hứng chịu nhiều nỗi cay đắng cuộc đời, mới hàm chứa được nội dung sâu sắc của cuộc sống. Chúng vẽ mà không biết mình đang vẽ cái gì, mục đích gì… Chính vì vậy nếu là những người không có năng khiếu bẩm sinh về nghệ thuật, cảm xúc trân quý này sẽ lụi tàn ngay khi chạm bước vào đời. Hiện nay các cấp giáo dục phổ thông ở Việt Nam đã thực hiện các chương trình dạy hai môn nhạc và họa từ lớp một tới hết phổ thông cơ sở. Đây là một chủ trương hết sức cần thiết nhằm giúp những em học sinh có năng khiếu bẩm sinh được học thêm kỹ năng vẽ và luôn luôn được nuôi dưỡng, chăm sóc các cảm xúc thẩm mỹ. Nếu không có được điều kiện trở thành các nhà nghệ sĩ trực tiếp sáng tác sau này, thì cũng giúp các em một trình độ nhất định nào đó, nhằm giúp xã hội có một đội ngũ khán giả có thị hiếu lành mạnh, xây dựng một môi trường tạo dựng nên giới thưởng thức nghệ thuật, tức những người am hiểu và hâm mộ nghệ thuật. Một lực lượng không thể thiếu trong các hoạt động nghệ thuật văn hóa nói chung, và mỹ thuật nói riêng, mà khi dựa vào đây, nghệ thuật sẽ được phát huy đúng chức năng, và lên ngôi cùng sứ mạng to lớn của nó.

Tóm lại muốn sáng tác được, ta cần phải có những yếu tố như năng khiếu bẩm sinh (khách quan), kỹ năng sáng tác (nhằm nắm bắt cảm xúc và có khả năng đưa cảm xúc trở thành tác phẩm bằng những kỹ thuật đã được học ở những trường nghệ thuật chuyên nghiệp). Vốn sống và sự trải nghiệm của người nghệ sĩ cũng là một yếu tố không thể thiếu. Qua cuộc sống, hai yếu tố kia cũng sẽ được nuôi dưỡng phát triển phục vụ cho quá trình sáng tác.

Cuộc sống chính là bầu sữa mẹ không bao giờ cạn nuôi nấng, tiếp sức cho các cảm xúc thẩm mỹ trong mỗi cá nhân. Qua cuộc sống, trước mỗi hoàn cảnh điển hình nhất định, cảm xúc thẩm mỹ xuất hiện, người nghệ sĩ nắm bắt và dùng các kỹ năng sáng tác được học để thể hiện ý tưởng đó thành tác phẩm nghệ thuật. Trong hầu hết, quá trình sáng tác xảy ra như vậy. Nhưng có những trường hợp đặc biệt. Đó là các bậc vĩ nhân, họ thường tự thắp đuốc mà đi theo con đường riêng của họ chọn. Họ không cần phải học ai cả mà vẫn có những tác phẩm với đầy đủ các giá trị nghệ thuật cùng ẩn chứa sứ mạng mặc định của nghệ thuật. Chúng ta là những bậc thường nhân, vẫn cần phải học tập và kế thừa ánh sáng tri thức và kinh nghiệm sáng tác của họ.

Điển hình là trường hợp của nhà điêu khắc Michelangelo (1475-1564), điêu khắc gia nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật Công Giáo thời Phục Hưng. Cuộc sống và sự nghiệp của ông đã được nhiều người viết và được đưa lên trên hệ thống mạng Web. Chúng ta có thể tìm hiểu với từ khóa “cuộc sống và sự nghiệp của Michelangelo”. Ông là một trong ba người khổng lồ của giai đoạn đầu thời kỳ Phục Hưng (từ khoảng 1420 đến 500). Hai người kia là các danh họa Leonardo da Vinci và Raffaello.

Như vậy chúng ta đã rõ một quy trình làm việc để sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật. Nhưng công việc tưởng như đơn giản lại không như ta tưởng. Bởi đây là một lĩnh vực hoàn toàn thuần túy về tinh thần. Mà đã là tinh thần thì không thể nhìn thấy, sờ thấy, nghe thấy và hoàn toàn mang tính chất dấu ấn cá nhân. Một tác phẩm nghệ thuật mang trên mình những đặc điểm chung đó nhưng vẫn phải thỏa các tính chất như cá tính, độc đáo về ý tưởng, cách thể hiện, có tác dụng ảnh hưởng lớn lâu dài tới xã hội hiện tại và tương lai… Tác phẩm nghệ thuật không thể sao chép ý tưởng, nội dung (đây là điểm đặc biệt khác với sản phẩm mỹ nghệ có thể nhân bản hàng loạt). Thậm chí nếu là một nghệ sĩ chân chính, ngay cả việc sao chép chính mình cũng là một điều không nên làm, chứ chưa nói tới việc đi sao chép ý tưởng của người khác.

Có lẽ đây là một yếu tố hết sức đặc biệt của nghệ thuật khiến cho việc ấn hành và phát triển các giáo trình hay sách giáo khoa trong các trường chuyên nghiệp nghệ thuật gặp nhiều khó khăn (ngoài những giáo trình nghệ thuật mang tính triết học đầu ngành). Bởi lẽ, bản chất nghệ thuật là luôn sáng tạo ra cái mới, cái riêng, cái mà chưa ai gặp bao giờ. Và những cuốn giáo trình được viết ra lại mang đậm tính cá nhân của người viết, cô đọng, đóng khuôn, đơn điệu và khuôn phép. Liệu có thích hợp với sự phát triển lôgic trong mỗi cá nhân nghệ sĩ khác. Hay nó sẽ lại là một tấm da bịt mắt con ngựa nhằm chỉ cho nó đi theo một con đường duy nhất. Điều này lại mâu thuẫn với bản chất của nghệ thuật.

Nhưng may thay, giáo trình thì ít ỏi, nhưng có rất nhiều sách tham khảo về nghệ thuật có giá trị cao cho mỗi con người, mỗi cá nhân muốn đi tìm bản chất cái đẹp trong nghệ thuật. Để có thể tìm được chân lý và cái đẹp theo các con đường khác nhau của mỗi người. Qua các sách tham khảo, vẫn có những cái chung nhất, những sợi chỉ đỏ (nguyên tắc tâm lý sáng tác chung) xuyên suốt không những trong nghệ thuật thị giác mà cả các ngành nghệ thuật khác như văn chương, trình diễn… Với mỗi một cá nhân nghệ sĩ, có thể có rất nhiều nguyên tắc áp dụng, kể cả những nguyên tắc đã học được, kể cả những nguyên tắc riêng tự đặt ra cho mình mà người khác không thể áp dụng được. Sau đây có thể quy về một số nguyên tắc chung nhất. Những nguyên tắc này đã được tác giả Chu Quang Tiềm đề cập tới trong cuốn Văn nghệ tâm lý học. Đây là một cuốn sách lý luận với tâm lý sáng tác và thưởng ngoạn nghệ thuật, giải quyết được rất nhiều vấn đề nan giải trong lĩnh vực nghệ thuật. Do dịch giả Khổng Đức và Đinh Tấn Dung dịch ra tiếng Việt, đã được Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản vào những năm 80. Những giá trị nó để lại vẫn đầy ắp tính ứng dụng vào công việc xây dựng, phát triển nghệ thuật trong lĩnh vực đào tạo và sáng tác. Sau đây là một số ứng dụng của các nguyên tắc tâm lý đó trong công việc sáng tác điêu khắc khi làm việc trên máy tính và nhất là với phần mềm Zbrush.

Đọc tiếp phần 2 _ Đọc phần 3

Tác giả: Phan Xuân Hòa. Nguồn: https://zbrushtiengviet.info/ly%20thuyet/blog.php?entry_id=1454452212

Posted on Leave a comment

How you can Develop into a Sculptor

Hits: 190

There have by no means been extra or higher selections in terms of on-campus and on-line establishments. With so many choices obtainable, discovering one of the best program for you is usually a powerful activity. Which one is greatest for you? Full time or part-time? The crew at dieukhachue.com is right here that will help you discover the highest faculties and diploma applications that meet your wants. Seek for the appropriate Artwork & Design program from our complete database of accredited schools and universities.